Tổng quan nghiên cứu

Huyện Tuần Giáo là cửa ngõ kinh tế phía Đông của tỉnh Điện Biên với tổng diện tích tự nhiên đạt 113.542,27 ha và dân số 87.883 người. Đặc điểm dân cư tại địa phương mang tính chất đa dân tộc rõ nét, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số với dân tộc Thái chiếm 59,03%, dân tộc Mông chiếm 25,79%, người Kinh chiếm 8,56%, người Kháng chiếm 3,49% và người Khơ Mú chiếm 2,82%. Toàn huyện ghi nhận 49.993 người trong độ tuổi lao động, chiếm 59% tổng dân số, với số người có khả năng lao động thực tế đạt 48.331 người (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 96,6%). Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực tại đây còn đối mặt với rào cản nghiêm trọng khi tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên chỉ chiếm khoảng 13%, đồng thời gần 75% lực lượng lao động nông thôn chưa qua đào tạo nghề chính quy.

Cơ cấu kinh tế và sử dụng đất đai của huyện phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp với diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 87,7% (tương đương 99.557,38 ha). Tình trạng thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn chiếm khoảng 35% tổng quỹ thời gian lao động, tạo sức ép lớn lên an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Trước bối cảnh đó, luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế của tác giả Giàng A Dế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đình Tuấn tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên (năm 2020), tập trung giải quyết bài toán phát triển đào tạo nghề cho người lao động.

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác phát triển đào tạo nghề trên địa bàn huyện Tuần Giáo giai đoạn 2017 – 2019, nhận diện các nút thắt cản trở, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2021 – 2025. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 18 xã và 1 thị trấn với 237 khối, bản. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, gia tăng thu nhập bình quân và đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết vốn nhân lực của Theodore Schultz và Gary Becker, khẳng định việc đào tạo kỹ năng nghề cho người lao động là phương thức đầu tư trực tiếp mang lại tỷ suất sinh lợi kinh tế cao nhất cho xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển qua hàm sản xuất $Y = f(K, L, R, T)$, trong đó yếu tố chất lượng nguồn lao động ($L$) kết hợp với trình độ công nghệ ($T$) đóng vai trò quyết định hiệu quả khai thác vốn ($K$) và tài nguyên đất đai ($R$).

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt: Nguồn lao động (theo Bộ luật Lao động năm 2012), Nghề nghiệp, Đào tạo nghề (theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO), và Phát triển đào tạo nghề. Khung phân tích xác định phát triển đào tạo nghề là quá trình nâng cấp đồng bộ 6 trụ cột: mở rộng quy mô và mạng lưới cơ sở đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hiện đại hóa chương trình giáo trình, nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị, đa dạng hóa phương thức truyền thụ và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 947/QĐ-UBND của UBND tỉnh Điện Biên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Tuần Giáo, báo cáo của Chi cục Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tuần Giáo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017 – 2019.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu trực tiếp trên 2 nhóm đối tượng cốt lõi:

  • Nhóm cán bộ quản lý và giáo viên: Tiến hành điều tra toàn bộ 20/20 cán bộ, giáo viên cơ hữu (đạt tỷ lệ 100%) tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) huyện Tuần Giáo nhằm đánh giá năng lực giảng dạy và phương pháp đào tạo.
  • Nhóm người học: Tiến hành phát phiếu khảo sát trực tiếp tại 5 lớp đào tạo nghề kỹ thuật đang vận hành ở Trung tâm (lớp chăn nuôi bò, kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, kỹ thuật trồng cây cà phê, kỹ thuật thâm canh cây ăn quả và kỹ thuật gò hàn). Tổng số phiếu phát ra là 294 phiếu, thu về 294 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 100%).

Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Kém đến 5: Tốt/Rất ảnh hưởng) để lượng hóa các tiêu chí về chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất và hiệu quả đào tạo. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với giáo viên và chọn mẫu theo cụm lớp học thực tế đối với học viên được lựa chọn vì tính đại diện cao, phản ánh sát thực chất lượng đào tạo nghề tại địa phương miền núi. Tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả và so sánh chuỗi số liệu 2017 – 2019 nhằm phân tích biến động chỉ tiêu và định lượng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực trạng phát triển đào tạo nghề tại huyện Tuần Giáo giai đoạn 2017 – 2019 chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, về mạng lưới và quy mô đào tạo: Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện còn đơn điệu, toàn huyện chỉ có duy nhất 01 cơ sở là Trung tâm GDNN - GDTX huyện Tuần Giáo với 20 cán bộ, giáo viên. So với tổng lực lượng 48.331 người có khả năng lao động, quy mô đào tạo hàng năm còn rất khiêm tốn. Hình thức đào tạo chủ yếu là sơ cấp nghề và các lớp truyền nghề ngắn hạn dưới 3 tháng, hoàn toàn thiếu vắng các bậc đào tạo trung cấp nghề hay cao đẳng nghề tại chỗ.

Thứ hai, về cơ cấu ngành nghề đào tạo: Năm 2019, cơ cấu tuyển sinh phân theo ngành nghề có sự chênh lệch lớn khi nhóm nghề nông nghiệp chiếm trên 70% tổng số học viên (chủ yếu là kỹ thuật trồng cà phê, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc). Khối ngành phi nông nghiệp như gò hàn, may mặc, xây dựng chỉ chiếm dưới 30%. Cơ cấu này chưa bắt kịp tốc độ chuyển dịch kinh tế khi toàn huyện đã có 58 doanh nghiệp, 22 hợp tác xã và hơn 700 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động.

Thứ ba, về chất lượng đội ngũ giảng dạy và cơ sở vật chất: Đánh giá của 294 học viên qua thang đo Likert cho thấy cơ sở vật chất và môi trường thực hành chỉ đạt điểm trung bình từ 2,80 đến 3,15 điểm (mức trung bình). Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn kỹ năng thực hành nghề bậc cao còn thấp, trang thiết bị dạy nghề lạc hậu, thiếu xưởng thực hành chuyên sâu.

Thứ tư, về kết quả sau đào tạo: Hơn 75% học viên tốt nghiệp các lớp nghề nông nghiệp đã ứng dụng được kỹ thuật vào canh tác hộ gia đình, giúp năng suất cây trồng tăng khoảng 10 - 15%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chuyển đổi thành công sang khu vực công nghiệp và dịch vụ sau đào tạo chỉ đạt khoảng 15 - 20%, thu nhập bình quân của lao động sau học nghề dao động ở mức 2,5 đến 3,5 triệu đồng/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp của huyện vùng cao, địa hình chia cắt với 70% diện tích là núi cao trên 800m. Nhận thức của người dân còn nặng tâm lý chuộng bằng cấp đại học, xem nhẹ học nghề. Mặt khác, ngân sách chi cho đào tạo nghề còn eo hẹp, chưa thu hút được nguồn lực xã hội hóa. Mối quan hệ liên kết giữa Trung tâm GDNN - GDTX với 58 doanh nghiệp và 22 hợp tác xã trên địa bàn còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng đào tạo dựa trên năng lực sẵn có của trung tâm chứ chưa bám sát nhu cầu thị trường.

Khi đối chiếu với mô hình đào tạo nghề tại thị xã Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) – nơi đã đào tạo gần 5.000 lao động với trên 70% học nghề phi nông nghiệp, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 90% và mức lương công nhân đạt 5,5 đến 7,5 triệu đồng/tháng – Tuần Giáo cho thấy sự chậm chân trong việc gắn kết đào tạo với doanh nghiệp công nghiệp. So với thị xã Nghĩa Lộ (tỉnh Yên Bái) với quy mô đào tạo 400 - 500 lao động/năm (65% nông nghiệp, 35% phi nông nghiệp), Tuần Giáo cần học hỏi giải pháp đưa cán bộ khoa học kỹ thuật và thợ giỏi trực tiếp tham gia giảng dạy cầm tay chỉ việc.

Về phương thức trực quan hóa dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu được tổng hợp rõ nét qua hệ thống biểu đồ tròn mô tả cơ cấu dân tộc học viên (Thái 59,03%, Mông 25,79%) và bảng so sánh ma trận điểm Likert 5 tiêu chí chất lượng, giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng điểm nghẽn tại khâu thiết bị thực hành và học liệu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động huyện Tuần Giáo giai đoạn 2021 – 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và quy hoạch mạng lưới GDNN: UBND huyện Tuần Giáo phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên tiến hành điều tra, phân loại nhu cầu học nghề của 49.993 lao động; tích hợp quy hoạch đào tạo nghề vào Đề án phát triển vùng chuyên canh cây ăn quả, cà phê và mắc ca; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ lên mức 30 - 35% vào năm 2025.
  • Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề: Trung tâm GDNN - GDTX huyện Tuần Giáo tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa định kỳ 100% cán bộ, giáo viên về phương pháp sư phạm nghề và kỹ năng công nghệ thông tin; chủ động liên kết, thuê chuyên gia kỹ thuật và thợ lành nghề từ 58 doanh nghiệp, 22 hợp tác xã trên địa bàn tham gia hướng dẫn thực hành cho học viên.
  • Đổi mới chương trình, giáo trình và nâng cấp trang thiết bị: Rà soát, biên soạn lại 100% giáo trình 5 nghề kỹ thuật trọng điểm theo hướng tăng thời lượng thực hành lên tối thiểu 70% tổng thời gian khóa học; kiến nghị UBND tỉnh Điện Biên phân bổ nguồn vốn ngân sách từ 3 đến 5 tỷ đồng/năm để đầu tư mới xưởng thực hành cơ khí, gò hàn và trang thiết bị chế biến nông sản tại trung tâm giai đoạn 2021 – 2025.
  • Thiết lập cơ chế liên kết ba nhà (Nhà nước – Cơ sở đào tạo – Doanh nghiệp): Ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo và tuyển dụng trực tiếp giữa Trung tâm GDNN - GDTX với các đơn vị kinh tế lớn như Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, Công ty Macadamia Điện Biên; lồng ghép đào tạo kiến thức khởi sự kinh doanh để bảo đảm tỷ lệ học viên có việc làm hoặc tự tạo việc làm đạt trên 85% sau tốt nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và an sinh xã hội: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tuần Giáo sử dụng số liệu thực trạng và khung giải pháp của luận văn làm căn cứ xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách đào tạo nghề và chính sách hỗ trợ giảm nghèo vùng cao.
  • Ban Giám đốc và cán bộ các Trung tâm GDNN - GDTX: Đội ngũ quản lý và giáo viên tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp khu vực Tây Bắc tham khảo phương pháp điều tra 294 học viên, thang đo Likert và bài học cải tiến chương trình đào tạo 5 nghề kỹ thuật sát với thực tế sản xuất địa phương.
  • Doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn miền núi: 58 doanh nghiệp và 22 hợp tác xã tại huyện Tuần Giáo tham khảo dữ liệu cung - cầu lao động để chủ động xây dựng đơn đặt hàng đào tạo nhân lực kỹ thuật tại chỗ, tối ưu hóa chi phí tuyển dụng và chuyển giao công nghệ sản xuất.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế: Các học viên cao học, sinh viên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công khai thác mô hình lý thuyết vốn nhân lực kết hợp phân tích thực nghiệm tại một huyện miền núi đặc thù để hoàn thiện các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan.

Câu hỏi thường gặp

  • Thực trạng chất lượng lao động tại huyện Tuần Giáo trước khi thực hiện đào tạo nghề như thế nào? Toàn huyện có 49.993 người trong độ tuổi lao động nhưng tỷ lệ có trình độ từ trung cấp trở lên chỉ đạt khoảng 13%, và gần 75% lao động nông thôn chưa qua đào tạo nghề. Người dân chủ yếu làm nông nghiệp theo tập quán truyền thống, dẫn đến năng suất lao động thấp và tỷ lệ thiếu việc làm lúc nông nhàn chiếm tới 35% quỹ thời gian.

  • Cỡ mẫu điều tra thực tế trong luận văn được phân bổ như thế nào? Tác giả đã thực hiện khảo sát toàn diện 20/20 cán bộ, giáo viên cơ hữu tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Tuần Giáo và thu thập ý kiến trực tiếp từ 294 học viên thuộc 5 lớp nghề kỹ thuật mũi nhọn (chăn nuôi bò, chăn nuôi gia cầm, trồng cà phê, cây ăn quả, gò hàn) với tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 100%.

  • Tại sao cơ sở vật chất dạy nghề tại huyện Tuần Giáo lại bị đánh giá ở mức trung bình? Khảo sát 294 học viên qua thang đo Likert ghi nhận điểm số cơ sở vật chất chỉ đạt từ 2,80 đến 3,15 điểm. Nguyên nhân do kinh phí đầu tư công hạn hẹp, máy móc thực hành ngành gò hàn và cơ khí thiếu đồng bộ, trung tâm chưa có trang trại thực nghiệm công nghệ cao phục vụ các lớp trồng trọt, chăn nuôi.

  • Bài học kinh nghiệm từ thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) có ý nghĩa gì đối với Tuần Giáo? Thị xã Phổ Yên đã đào tạo gần 5.000 lao động với hơn 70% học nghề phi nông nghiệp và tỷ lệ có việc làm đạt trên 90%, mức lương 5,5 đến 7,5 triệu đồng/tháng nhờ gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp. Tuần Giáo có thể áp dụng bài học ký kết hợp đồng đặt hàng đào tạo trực tiếp với 58 doanh nghiệp tại địa phương.

  • Mục tiêu cụ thể của các giải pháp phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2021 – 2025 là gì? Giải pháp đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ lên 30 - 35% vào năm 2025, bố trí 3 đến 5 tỷ đồng/năm nâng cấp xưởng thực hành, chuẩn hóa 100% giáo viên dạy nghề và bảo đảm trên 85% học viên có việc làm ổn định hoặc nâng cao năng suất canh tác hộ gia đình sau khóa học.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận về quản lý và phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa bàn miền núi đặc thù.
  • Khắc họa toàn diện bức tranh thực trạng nguồn nhân lực huyện Tuần Giáo với 49.993 lao động nhưng tỷ lệ qua đào tạo nghề bậc cao chỉ chiếm khoảng 13%.
  • Cung cấp nguồn số liệu điều tra thực chứng đáng tin cậy từ 20 cán bộ quản lý và 294 học viên tại 5 lớp đào tạo nghề thông qua thang đo Likert 5 mức độ.
  • Rút ra các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp tại thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) và thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình triển khai rõ ràng cho giai đoạn 2021 – 2025, hướng tới mục tiêu trên 85% học viên có việc làm bền vững.

Đóng góp chính của luận văn thạc sĩ là luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng giúp các cơ quan quản lý nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Lộ trình thực hiện các giải pháp cần được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2021 – 2025 nhằm hoàn thiện kết cấu hạ tầng dạy nghề và nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc địa phương. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và quản lý kinh tế vùng cao.