phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của đề án quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn tại tỉnh Kon Tum. Chƣơng 3: Giải pháp quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Chƣơng 4: Tổ chức thực hiện.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ ÁN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Các khái niệm cơ bản liên qu n ến quản lý nhà nƣớc về ào tạo nghề cho thanh niên nông thôn 1. Đào tạo nghề và đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn * Đào tạo nghề: Năm 1999, Trung tâm nghiên cứu Khoa học Tổ chức và Quản l định nghĩa: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo năng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến công việc chuyên môn hóa" (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Tổ chức và Quản lí, 1999, tr.
Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 số 74/2014/QH13 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoa học". Từ những góc nhìn khác nhau, có thể hiểu: Đào tạo nghề là một quá trình giáo dục - đào tạo diễn ra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc khóa học, tại đây ngƣời dạy truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giúp cho ngƣời học định hƣớng đƣợc thái độ, nhân cách theo hƣớng chuẩn mực, quá trình này diễn ra liên tục, có sự biến đổi để phù hợp với đối tƣợng học tập và môi trƣờng. Song song với những hoạt động của ngƣời dạy, ngƣời học cùng tham gia vào quá trình học tập bằng cách đọc, nghe, quan sát, thực hành, thực tập để tích luỹ kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ nghề nghiệp tƣơng xứng yêu cầu của vị trí công việc thuộc lĩnh vực, ngành nghề đƣợc đào tạo đang tồn 9 tại trong xã hội. Đào tạo nghề đề cao việc trang bị kỹ năng nghề nghiệp hơn là việc trang bị kiến thức hàn lâm.
* Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Theo Thủ tƣớng Chính phủ (2009): "ĐTN cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lƣợng LĐNT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn". Theo Nguyễn Văn Đại (2012, tr. 32): "ĐTN cho LĐNT là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những ngƣời LĐNT có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn". Những khái niệm trên đã nêu rất rõ về cách thức vận hành và sản phẩm tạo ra từ hoạt động ĐTN cho LĐNT xét về phƣơng diện kỹ thuật song chƣa đề cập đến sản phẩm nếu xét về phƣơng diện hiệu quả của hoạt động ĐTN cho LĐNT.
Do đó, khái niệm ĐTN cho LĐNT cần đƣợc hiểu nhƣ sau: ĐTN cho LĐNT là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho LĐNT để ngƣời Chọc nghề sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề (tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm) nhằm giúp cho LĐNT cải thiện thu nhập, nâng cao chất lƣợng cuộc sống phù hợp với sự phát triển của xã hội. Khái niệm về nghề trong nông nghiệp cũng rất đa dạng và luôn thay đổi, đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉ quan tâm đến kỹ thuật mà còn cả quản trị chuỗi sản xuất, các tiêu chuẩn về an toàn, ứng dụng công nghệ, kiến thức về thị trƣờng, hiện đại hóa hợp tác xã. Theo Thủ tƣớng Chính phủ (2015): "đào tạo cho lao động nông thôn đa dạng, cụ thể, theo nhu cầu của ngƣời học và thực tiễn sản xuất; từ đào tạo một công đoạn, một kỹ năng nghề nhất định, đến đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ 10 một cách đầy đủ, toàn diện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp". * Thanh niên nông thôn: Thanh niên nông thôn (TNNT) là một bộ phận dân số sinh sống ở nông thôn trong độ tuổi theo qui định của pháp luật là từ 16 đến 30 tuổi.
Thanh niên nông thôn là những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. Vì vậy có thể hiểu rằng “Lực lƣợng lao động thanh niên nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động từ 16 đến 30 tuổi có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm. * Nghề là một hiện tƣợng xã hội có tỉnh lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kĩ thuật, và văn minh nhân loại. Có nhiều định nghĩa và khái niệm về nghề.
Nói đến nghề là gắn liền với kiến thức, kĩ năng của nghề. Những kiến thức và kĩ năng này không phải tự nhiên mà có đƣợc mà là do kết quả đào tạo chuyên môn và t ch lũy kinh nghiệm (Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội - Liên minh châu Âu - ILO, 2011, tr. Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội" (Nguyễn Nhƣ Ý, 1999, tr. Đỗ Minh Cƣơng và Mạc Văn Tiến quan niệm: “Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi đƣợc.
Nghề mang tỉnh tƣơng đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội" (Đỗ Minh Cƣơng - Mạc Văn Tiến, 2004, tr. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn * QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật nhà nƣớc để điều chỉnh các hành vi của con ngƣời trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà 11 nƣớc thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. * Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Quản lý là tác động một cách có tổ chức và định hƣớng của chủ thể quản lý vào một đối tƣợng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tƣợng theo những mục tiêu đã định. Quản lý nhà nƣớc xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nƣớc.
QLNN gắn liền với chủ thể quản lý là bộ máy nhà nƣớc để thực thi quyền lực nhà nƣớc, gắn liền với công cụ, phƣơng tiện quản lý quan trọng nhất đó là pháp luật do nhà nƣớc đặt ra để quản lý toàn bộ xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống. Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là một trong những hoạt động của lĩnh vực GDĐT. Do vậy cần có sự QLNN để hoạt động này đƣợc diễn ra đúng hƣớng và phù hợp với sự phát triển KT - XH của đất nƣớc. Quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực ĐTN là quản lý theo ngành do một cơ quan trung ƣơng thực hiện.
Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực đào tạo nghề của đất nƣớc phù hợp với sự phát triển KT - XH. Ta có thể hiểu QLNN về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là hoạt động quản lý theo ngành do các cơ quan chức năng thực hiện, sử dụng quyền lực công để điều hành điều chỉnh toàn bộ các hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đặc điểm của quân lý nhà nƣớc về ĐTN cho thanh niên nông thôn Chủ thể quản lý: là các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc từ Trung ƣơng tới địa phƣơng đƣợc giao nhiệm vụ QLNN về thanh niên nông thôn theo quy định của pháp luật. 12 Đối tƣợng quản lý: là mọi hoạt động về ĐTN cho thanh niên nông thôn LĐNT ở tất cả các cơ sở dạy nghề.
Bao gồm các hoạt động chủ yếu nhƣ: xây dựng và thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển ĐTN; điều kiện hoạt động dịch vụ, tƣ vấn nghề; đăng ký và cấp giấy chứng nhận hoạt động ĐTN; tổ chức và hoạt động các cơ sở ĐTN; tổ chức chỉ ĐTN, bồi dƣỡng cán bộ, giáo viên; lập dự toán trƣờng, trung tâm, DN có ĐTN và ngƣời học nghề. Mục tiêu quản lý: là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp nhằm giúp thanh niên nông thôn có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đạt đƣợc tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề để tìm đƣợc việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển KT – XH. Nội dung quản lý nhà nƣớc về ào tạo nghề cho thanh niên nông thôn 1.1 Ban hành các văn bản, hướng dẫn thực hiện các chế độ chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong đào tạo nghề theo luật giáo dục nghề nghiệp là hành lang pháp lý và tạo môi trƣờng để thúc đẩy phát triển công tác đào tạo nghề. Là cơ sở để Bộ LĐTB&XH, cơ quan quản lý các cấp thực hiện chức năng QLNN về đào tạo nghề (hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
Đồng thời là cơ sở để các cơ sở giáo dục nghề tổ chức các hoạt động đào tạo (tuyển sinh đào tạo; tiêu chuẩn, chế độ đối với giáo viên; cơ sở vật chất, thiết bị; xây dựng chương trình, giáo trình; thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ; kiểm định chất lượng.