CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG 1. Khái niệm nghề Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển, và tiêu vong. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội.
Trong cơ chế thị trường nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hoá. Giá trị của thứ hàng hoá sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hoá này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường.
Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm. Vậy nghề là gì ? Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có được những tri thức những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
5 Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15 000 chuyên môn, còn ở Mỹ con số đó lên đến 40 000. Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “thế giới nghề nghiệp”. Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác.
Hơn nữa các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hoá. Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện.
Ở nước ta mỗi năm ở cả 3 hệ truờng (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề và bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau. Khái niệm dạy nghề Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTB&XH, mạng lưới hệ thống dạy nghề từ năm 1998 – 2008 được phát triển mạnh, số trường tăng 2,73 lần (từ 129 trường lên 306 trường cao đẳng, trung cấp nghề), trung tâm dạy nghề tăng 4,56 lần (từ 150 lên 684). Mỗi tỉnh có ít nhất một trường trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề, 50% huyện có trung tâm dạy nghề. Xã hội hoá dạy nghề đã đạt được kết quả bước đầu, quy mô tuyển sinh học nghề tăng nhanh, đầu tư cho dạy nghề ngày càng tăng.
Tuy nhiên dạy nghề vẫn còn rất nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động. Trong nhiều năm qua, công tác dạy nghề có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn có một thực tế là hiện nay, học sinh sau khi tốt nghiệp THPT không mặn mà với đào tạo nghề. Xã hội còn coi trọng bằng cấp, học vị mà chưa quan tâm đúng mức đến vai trò, vị trí của nghề nghiệp. Mặt khác, công tác tư vấn nghề nghiệp, việc làm cho học sinh, thanh niên chưa được chú trọng, khiến thanh niên chưa hiểu đúng về học nghề và chưa coi học nghề là một con đường lập nghiệp.
6 Thị trường lao động hiện nay có sự tham gia của doanh nghiệp nước ngoài ngày càng nhiều, các doanh nghiệp trong nước với những dây chuyền công nghiệp đang đòi hỏi nhiều hơn nữa lượng kỹ sư thực hành, đội ngũ công nhân kỹ thuật và đặc biệt là đội ngũ công nhân trong dây chuyền sản xuất. Từ thực tiễn thị trường lao động, không nhất thiết phải chú trọng vào trình độ cao, nâng lên cao đẳng nghề, kỹ sư thực hành nhưng cũng cần chú trọng vào đào tạo nghề ngắn hạn, lượng công nhân cho các dây truyền làm việc rất cần số lượng lớn. Thực tế trên cho thấy rất cần nghiên cứu một cơ cấu lao động phù hợp với quy mô phát triển từng khu vực, vùng miền. Cần phải nhận thấy rằng, mục tiêu của các nhà trường phải đặt chất lượng đào tạo lao động lên hàng đầu.
Song song với đó là việc cần phải cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ để từ đó đề ra một đề xuất hợp lý cho đào tạo. Mới đây Bộ LĐTB&XH đã lấy ý kiến xây dựng đề án đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020, trong đó có đề ra các nhiệm vụ, và 7 nhóm giải pháp. Vấn đề đặt ra qua thực tiễn 15 năm từ 1995 đến 2009, đào tạo nghề với nhiều biến chuyển đã khởi sắc. Hơn ai hết các hiệu trưởng quá hiểu đào tạo cái mà xã hội cần, tuy nhiên hiểu thì hiểu đấy, nhưng trên thực tế để triển khai đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp là rất khó Chúng ta đã nói rất nhiều đến các vần đề xung quanh việc dạy nghề.
Để hiểu rõ hơn về dạy nghề và có thể đánh giá xem dạy nghề có những thuận lợi, khó khăn gì, có những mặt hạn chế hay tích cực nào, và vai trò của dạy nghề trong xã hội ra sao, thì chúng ta phải hiểu về khái niệm dạy nghề. Vậy dạy nghề là gì? Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Khái niệm dạy nghề phổ thông 7 Trong giai đoạn ngày nay, sự sút kém về dời sống, khủng hoảng kinh tế và lạm phát tiền tệ, đời sống người lao động bấp bênh… nên người dân không muốn con em mình đi vào một số nghề mà thu nhập quá thấp, lại không có viễn cảnh phát triển. Từ đó, dần dần trở thành một ý thức chạy đua vào ĐH, CĐ.
Xu thế tách rời học với hành, giáo dục với lao động sản xuất tăng lên. Vai trò của công tác dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp dần dần bị coi nhẹ, việc học nghề phổ thông ít được quan tâm. Cuộc chạy đua trong thi cử nói chung và thi ĐH, CĐ nói riêng đã tạo nên một tâm trạng căng thẳng trong học sinh THPT, kéo theo không ít những việc làm tiêu cực và hành động vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn hệ thống nhà trường THPT của chúng ta đến tình trạng lạc hậu so với nhà trường của những nước có nền công nghiệp phát triển.
Vì vậy, cần đặt ra công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, theo hướng “đi tắt, đón đầu” của sự nghiệp CNH-HĐH, gắn việc chọn nghề của thanh niên với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở từng địa phương và trong cả nước. Việc dạy và học nghề phổ thông giúp các em có được những trang thông tin ban đầu về một số nghề trong xã hội và thị trường lao động liên quan đến việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp nhận và làm chủ công nghệ tiên tiến nhập của nước ngoài trong mọi lĩnh vực: Nông, Lâm, Ngư nghiệp, Công nghệ thông tin, Viễn thông… Như vậy, rõ ràng dạy nghề cho học sinh phổ thông là nhằm cung cấp cho các em về những ý niệm, những thông tin ban đầu về một số nghề hoặc một số nhóm nghề cụ thể, gần gũi với các em và phù hợp với xu thế thế giới trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, giúp các em có thêm thông tin, tự mình định hướng việc chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH quê hương, đất nước. Chất lượng giáo dục Người ta ít mổ xẻ khái niệm “chất lượng giáo dục” vì ngại nhiều hơn là vì nhàm. Bởi có rất nhiều cách hiểu khác nhau và cách hiểu nào cũng đầy cơ sở.
Chẳng hạn, giáo viên đánh giá chất lượng học tập bằng mức độ mà học sinh nắm vững các kiến thức kỹ năng, phương pháp và thái độ học tập của cá nhân. Học sinh có thể đánh giá chất lượng học tập bằng việc nắm vững kiến thức và vận dụng vào thực hành các bài tập, bài kiểm tra, bài thi…Cha mẹ học sinh đánh giá chất lượng bằng khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng thích ứng với môi trường. Nhà nước thì đánh giá qua mục tiêu giáo dục… Nhiều quan điểm khác nhau như thế, mỗi người nêu ra một cách, nhiều khi trái ngược nhau, để nâng cao chất lượng giáo dục. Thế mới có chuyện sách giáo khoa cứ phải thay đổi liên tục thì mới đạt chất lượng.
Các trường, sở trước thi đua nhau tìm mọi cách đảm bảo chất lượng đúng với chỉ tiêu thi đua sao cho năm sau cao hơn năm trước, nay lại hỳ hục nói không với tiêu cực và bệnh thành tích, vì giờ làm như vậy mới có chất lượng thực. Xưa thầy thầy dạy thêm, trường trường tổ chức học thêm, thế mới đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập ngày càng cao của người dân. Nay lại hạn chế dạy thêm, học thêm, vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng. Lại nói đến thi đại học: trước thì đã mấy chung (chung đề, chung địa điểm), sau không chung (riêng đề, riêng địa điểm), giờ lại chung, tới đây còn sát nhập hai kỳ thi làm một, tới đây nữa thì chưa biết thế nào? Hay như chuyện thi trắc nghiệm.
Kể từ khi chúng ta thí điểm cho thi đại học môn Ngoại ngữ bằng hình thức trắc nghiệm khách quan, làn sóng trắc nghiệm đã lan tràn khắp mọi nơi: môn môn trắc nghiệm,trường trường trắc nghiệm.