Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng Đề án QLNN về ĐTN cho LĐNT tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Chương 2: Thực trạng QLNN về ĐTN cho LĐNT tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp của Đề án QLNN về ĐTN cho LĐNT tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Chương 4: Tổ chức thực hiện.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số k á n ệm l ên quan 1. Các khái niệm, đặc điểm của lao động nông thôn ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề 1. Lao động nông thôn Hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất về LĐNT.
Theo Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ (TTCP) về phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020, LĐNT là người lao động ở khu vực nông thôn có sức khỏe, trình độ học vấn phù hợp, đang sinh sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam. Theo tác giả Đề án, LĐNT chỉ những nguồn lao động, đang làm việc và sinh sống tại các vùng nông thôn. Họ thường tham gia lao động, sản xuất trong ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) và các ngành nghề thủ công, sản xuất nhỏ lẻ, và các dịch vụ khác trong khu vực nông thôn. Ngoài ra, LĐNT còn những những người trong độ tuổi lao động có nhu cầu việc làm nhưng đang thất nghiệp, đi học hoặc làm việc nhà.
Những người lao động này là lực lượng xã hội, nguồn lực con người chính yếu duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển của xã hội nông thôn. Đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn - Lực lượng lao động khu vực nông thôn luôn có số lượng rất lớn trong cơ cấu lao động của quốc gia hay vùng lãnh thổ. Đây là khu vực cung cấp nguồn lao động chủ yếu không chỉ cho ngành nông nghiệp mà còn cho phát triển công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. LĐNT số lượng lớn sẽ là nguồn cung cấp đối tượng, lực lượng cho các cơ quan QLNN về ĐTN trong hoạch định, xây dựng kế hoạch ĐTN trong tương lai.
- Thời gian làm việc của LĐNT chủ yếu tham gia lao động ở nền kinh tế nông nghiệp, phụ thuộc chặt chẽ vào thời tiết và mùa vụ nên không ổn định về thời 8 gian, công việc. Yếu tố này sẽ cung cấp cho các nhà QLNN nghiên cứu sắp xếp, bố trí thời gian ĐTN phù hợp. - Phần lớn LĐNT làm việc theo kinh nghiệm là chủ yếu, kiến thức của người LĐNT được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thiếu đi kiến thức khoa học, kỹ năng, trình độ chuyên nghiệp. Do đó, để sử dụng nguồn lao động này đạt hiệu quả, nâng cao tay nghề, tăng thu nhập cho chính người lao động, đòi hỏi cần phải đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật tay nghề cho LĐNT.
- Phụ thuộc vào nông nghiệp, ngại thay đổi: Đa số lao động nông thôn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và các ngành nghề phụ thuộc trong lĩnh vực nông nghiệp, có tâm lý tiểu nông, không dám mạo hiểm nên ngại thay đổi trong tư duy ngành nghề, phát triển kinh tế. Vì vậy, để làm tốt công tác QLNN về ĐTN cho LĐNT, các cơ quan QLNN phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để LĐNT xóa bỏ được tâm lý tự ti, ngại thay đổi để học những ngành nghề mới. Đào tạo nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Đào tạo nghề Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2019): “ĐTN là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình”.
“Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. [3] Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, ĐTN là hoạt động của tổ chức, cá nhân nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp căn bản cho người học nghề có thể tham gia vào thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm sao khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Như vậy, theo tác giả Đề án, ĐTN nghề là hoạt động chuyển tải kiến thức, thực hành huấn luyện học viên để người học nghề được trang bị đầy đủ, tạo chuyển biến về chất liên quan đến kiến thức, kỹ năng và thái độ nhằm thực hiện một công việc hoặc nghề nghiệp cụ thể. Quá trình này thường kết hợp giữa lý thuyết và thực 9 hành, giúp người học nắm vững các kỹ năng chuyên môn và áp dụng chúng vào thực tế công việc.
ĐTN cho LĐNT Theo tác giả Đề án, ĐTN cho LĐNT là quá trình truyền bá, trang bị kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ hành nghề cho người LĐNT để nâng cao chất lượng tay nghề nhằm tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm trong thị trường lao động. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Quản lý nhà nước QLNN xuất hiện cùng với nhà nước, làm công việc quản lý hoạt động của nhà nước với xã hội và công dân. Chức năng, nhiệm vụ và các nội hàm liên quan của QLNN ở trên thế giới không giống nhau, nó phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển văn hóa - xã hội, truyền thống, tôn giáo của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và theo từng giai đoạn lịch sử.
[10] Theo Bộ tài liệu bồi dưỡng QLNN ngạch cán sự được Bộ Nội vụ ban hành kèm theo Quyết định số 1270/QĐ-BNV, ngày 03/12/2012, QLNN là dạng quản lý xã hội đặc biệt, bao gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. QLNN mang tính quyền lực, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các hành vi của cộng đồng xã hội và mỗi con người nhằm giữ sử ổn định và phát triển xã hội. Từ các khái niệm trên, theo tác giả Đề án có thể hiểu QLNN là một hoạt động quản lý xã hội gắn liền với sự hình thành của nhà nước khi con người xuất hiện; đặc trưng của QLNN là có tính quyền lực; công cụ, phương tiện mà QLNN thực hiện thông qua hệ thống pháp luật nhà nước; lực lượng QLNN sử dụng là các cơ quan trong hệ thống nhà nước từ cấp cao nhất đến thấp nhất; đối tượng QLNN là xã hội và mỗi cá nhân; mục tiêu nhằm bảo hộ quyền lợi, làm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của mỗi tổ chức, cá nhân, giúp cho toàn xã hội được ổn định và phát triển. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn QLNN về ĐTN cho LĐNT giúp cho việc ĐTN được hài hòa, hiệu quả đảm bảo đúng chủ trương, pháp luật của Nhà nước và đáp ứng được định hướng phát 10 triển, nhu cầu xã hội ở từng địa phương, tránh được tình trạng ĐTN tràn lan, không phù hợp với thị trường lao động, vừa dư, vừa thiếu, gây lãng phí nguồn lực của nhà nước, công dân và xã hội.
[7] Theo Hồ Ngọc Cường, Đặng Văn Hải (2023), QLNN về ĐTN cho LĐNT là hoạt động có tổ chức, có chủ đích được các cơ quan QLNN thực hiện bằng quyền lực nhà nước đối với công tác ĐTN cho LĐNT. Hoạt động này do các cơ quan QLNN về ĐTN từ trung ương đến địa phương triển khai để thực thi các nhiệm vụ, chức năng do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp ĐTN, nâng cao chất lượng nguồn LĐNT, thỏa mãn được nhu cầu được học nghề của người LĐNT, góp phần ổn định và phát triển KT - XH khu vưc nông thôn. [4] Trong công tác QLNN về ĐTN cho LĐNT, các cơ quan QLNN từ trung ương đến địa phương dùng công cụ pháp luật và chính sách để triển khai thực thi các nhiệm vụ, chức năng QLNN của mình đối với hoạt động ĐTN cho LĐNT. Nhà nước là tổ chức đứng ra đại diện thực hiện nhiệm vụ QLNN về ĐTN, tạo quyền được tiếp cận đầy đủ, bình đẳng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các đối tượng tham gia học nghề.
[4] Tổ chức, bộ máy thực hiện QLNN về ĐTNT cho LĐNT được xác lập ở các cấp, các ngành từ trung ương đến địa bàn cấp xã; phân công nhiệm vụ, thẩm quyền đối với việc QLNN về ĐTN cho LĐNT một cách cụ thể, rõ ràng. Các cơ quan QLNN ở từng cấp, từng ngành, theo phân cấp, phân quyền trên cơ sở rà soát, đánh giá nhu cầu học nghề của người lao động nông thôn sẽ tổ chức xây dựng chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo từng ngành, nghề cho từng đối tượng LĐNT cụ thể, để phát huy hiệu quả tối đa công tác QLNN về ĐTN cho LĐNT. Qua những khái niệm nêu trên, theo tác giả Đề án, QLNN về ĐTN cho LĐNT ở Việt Nam sẽ có những đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể QLNN về ĐTN cho LĐNT: Là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hệ thống chính trị của Việt Nam được giao chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền QLNN về ĐTN cho LĐNT. - Về khách thể QLNN về ĐTN cho LĐNT: Các hoạt động thực hiện ĐTN 11 cho LĐNT, liên quan đến chính sách, pháp luật.
- Về đối tượng QLNN về ĐTN cho LĐNT: Là tổ chức, cá nhân làm công tác ĐTN cho LĐNT; các cơ sở ĐTN cho LĐNT; người LĐNT. - Mục tiêu của QLNN về ĐTN cho LĐNT: Đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề cho người LĐNT giúp người LĐNT đạt được tiêu chuẩn nhất định tronh một ngành nghề nhất định, giúp người LĐNT có cơ hội tìm kiếm việc làm ở thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho bản thân; mục tiêu của QLNN về ĐTN cho LĐNT còn thúc đẩy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước. Nộ dung quản lý n à nƣớc về đào tạo ng ề c o lao động nông t ôn 1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Việc xây dựng tổ chức, bộ máy QLNN về ĐNT cho LĐNT từ trung ương đến cơ sở ở Việt Nam hiện nay được căn cứ theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp 2014, Nghị định 49/2015/NĐ-CP và Thông tư 42/2015/TT-BLĐTBXH.
Trong đó, Luật Giáo dục Nghề nghiệp 2014 là khung pháp lý chính cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp, quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.