Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển NNL trong xây dựng NTM. Chương 2: Thực trạng phát triển NNL trong xây dựng NTM tại huyện Xuân Lộc. Chương 3: Quan điểm và các giải pháp phát triển NNL trong xây dựng NTM tại huyện Xuân Lộc trong thời gian tới. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Các khái niệm làm cơ sở cho việc phân tích 1.1 Nguồn nhân lực Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về tăng trưởng kinh tế đã chứng minh vai trò to lớn của tri thức, sức khỏe và các nội dung khác thuộc về nguồn lực con người trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế.
Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã khái niệm nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động. Vậy nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế nên hiểu như thế nào? Theo WB, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân [71]. Theo đó, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Phân tích một cách cụ thể hơn: Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng,. để nâng cao khả năng sản xuất của NNL được xem như một loại đầu tư vào con người.
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia vào lao động” [45, tr. Với khái niệm này NNL được hiểu theo hai nghĩa. - Theo nghĩa rộng (trừu tượng), NNL được hiểu là “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” 12 [56,tr. Đó là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người tích lũy được hay đó là tổng thể tiềm năng của con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay một công ty có khả năng huy động được vào quá trình phát triển KT-XH [8,tr.
- Theo nghĩa hẹp (cụ thể), NNL được hiểu là nguồn lao động (tổng số người đang làm việc, người thất nghiệp, lao động dự phòng) hay bao gồm những người được đào tạo và không được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc đang không làm việc (kể cả có nhu cầu tìm việc làm và không có nhu cầu tìm việc làm). Thậm chí, NNL chỉ còn được hiểu là lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm và những người thất nghiệp. Cách hiểu này có ý nói đến giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề nhằm cung cấp cho thị trường một đội ngũ lao động có chất lượng, bởi vì trong một thị trường thế giới đang biến đổi nhanh chóng như hiện nay, tối đa hóa nguồn lực con người để nâng cao năng suất lao động là điểm then chốt để duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia. Về mặt lượng và xét ở các hình thái cụ thể, NNL là một bộ phận của dân số với các thành phần khác nhau.
Bộ phận quan trọng nhất của NNL là dân số hoạt động kinh tế tích cực hay còn gọi là lực lượng lao động, bao gồm những người có việc làm và những người thất nghiệp [56]. Khái niệm lực lượng lao động thường gắn với độ tuổi lao động quy định theo pháp luật. Ở Việt Nam, tuổi lao động được quy định là từ đủ 15 đến 60 đối với nam và từ đủ 15 đến 55 đối với nữ. Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi tiến hành đẩy mạnh CNH, HĐH của Đảng.
Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL. Trong công trình “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS.Nguyễn Hữu Dũng, nội hàm của khái niệm này được luận giải, phân tích như sau: “NNL là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống;.Nguyễn Đình Luận, số lượng NNL bao gồm: “quy mô dân số, cơ cấu tuổi tác, giới tính và sự phân bố (theo ngành kinh tế, theo vùng lãnh thổ, thành thị - nông thôn) của dân số” [34, tr. Có hai yếu tố ảnh hưởng đến số lượng NNL: 13 Yếu tố tự nhiên (mức sinh, mức tử); Yếu tố cơ học (di dân từ địa phương này, đến địa phương khác, cơ quan này đến cơ quan khác.Bùi Quang Bình: “Chất lượng NNL là tổng thể các yếu tố bên trong con người hay tổng thể năng lực của họ mà nhờ đó họ có thể hoàn thành những công việc với hiệu quả cao” [1, tr. Chất lượng NNL được hình thành từ trình độ thể chất, học vấn, chuyên môn và năng lực phẩm chất.
Những yếu tố này phải có thời gian và sự đầu tư nhất định để hình thành, tích lũy được [2]. Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. NNL chỉ khi được phát huy, phát triển thì mới trở thành động lực của sự phát triển, thành nguồn vốn con người. Khi xem xét khái niệm NNL cần quan tâm đến các khía cạnh chính như dân số (tạo ra số lượng - có bao nhiêu người và sẽ có bao nhiêu người trong tương lai), giáo dục – đào tạo và chăm sóc sức khỏe (tạo ra chất lượng gồm trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ… và tạo việc làm (hiệu quả sử dụng).
Vậy NNL trong xây dựng NTM chính là một bộ phận của NNL nói chung, được phân bổ và hoạt động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, làm việc trong các lĩnh vực KT-XH cho nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, trên thực tế, có một bộ phận NNL nằm ngoài khu vực nông nghiệp, nông thôn (ở khu vực thành thị) có đóng góp rất tích cực cho chương trình xây dựng NTM như một số nhà khoa học, nhà quản lý, nhà đầu tư. Với tư cách là động lực trực tiếp của quá trình xây dựng NTM thì lực lượng đáng kể và có vai trò quyết định (đối tượng trọng tâm của nghiên cứu này) là NNL hoạt động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn và những cán bộ, công chức, viên chức phục vụ cho xây dựng NTM.2 Phát triển nguồn nhân lực Khi bàn về phát triển NNL cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, xuất phát từ những góc nhìn khác nhau: Nếu coi NNL là tiềm năng con người nói chung đóng góp vào sự phát triển KT-XH thì phát triển NNL chính là quá trình biến đổi NNL nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người. UNESCO cho rằng “phát triển NNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp với sự phát triển của đất nước” [6, tr.
Cách hiểu này gắn phát triển NNL với phát triển sản xuất và chỉ giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và đáp ứng yêu cầu việc làm. Còn ILO cho rằng phải hiểu phát triển NNL theo nghĩa rộng hơn, phải là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân [51,tr. Phát triển NNL cũng được hiểu là làm gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển KT-XH [55,tr. Trong đó, kiến thức được nâng lên nhờ quá trình đào tạo, tiếp thu và tích lũy kinh nghiệm, còn thể lực có được là nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế [32,tr.Vũ Thị Minh Chi: “Phát triển NNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất NNL thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển KT-XH”[7,tr.
Như vậy, phát triển NNL về cơ bản là quá trình biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng NNL đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả cao nhất của NNL, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của phát triển KT-XH. Một số ý kiến khác thiên về vai trò của giáo dục - đào tạo khi xem xét khái niệm phát triển NNL.Nadler thì “phát triển NNL là làm tăng 15 những kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc” [70]. Theo Liên Hợp quốc, phát triển NNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH và nâng cao chất lượng cuộc sống.11] Trong thực tế không thể phủ nhận giáo dục là một yếu tố chủ yếu đóng góp cho sự phát triển. Đối với mỗi hộ gia đình, giáo dục là một tài sản quan trọng trong tham gia thị trường lao động.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định những người lao động được giáo dục tốt hơn thì có việc làm tốt hơn và có thu nhập cao hơn. Đối với một quốc gia, trình độ giáo dục cao hơn thường đi kèm theo mức tăng trưởng kinh tế cao, bền vững hơn và là một “thế lực cạnh tranh” hữu hiệu hơn.