Mở đầu nghiên cứu, tác giả khái quát về LĐNT và vấn đề ĐTN cho LĐNT. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác ĐTN cho LĐNT của nƣớc ta trong giai đoạn qua đã đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan nhƣng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng ĐTN cho LĐNT ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Cụ thể, các cấp chính quyền cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tƣ vấn học nghề, hƣớng nghiệp cho LĐNT.
Đồng thời, ĐTN phải dự báo đƣợc đầu ra cho lao động. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng các chính sách, cơ chế về ĐTN cho LĐNT rất cần đƣợc đổi mới, hoàn thiện. Bùi Thanh Hà (2021) nghiên cứu tác động của lao động qua ĐTN đến giảm nghèo đa chiều ở vùng Tây Bắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng ĐTN có tác động trực tiếp đến khả năng có việc làm và thu nhập của các hộ gia đình; số ngƣời trong hộ đƣợc đào tạo nghề càng nhiều thì khả năng hộ rơi nghèo đói càng giảm.
Tuy nhiên, công tác ĐTN cho lao động hiện nay chƣa đƣợc coi trọng đúng mức, tỷ lệ ngƣời lao động qua đào tạo chƣa nhiều; vẫn tồn tại rào cản chính sách khuyến khích nông dân nòng cốt để tham gia đào tạo nghề, truyền nghề; việc kết nối giữa các cơ sở giáo dục nghề 8 nghiệp với các doanh nghiệp còn hạn chế. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp bao gồm: (i) Mở rộng các hình thức ĐTN gắn với việc các hộ nông dân đƣợc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và quy trình sản xuất mới; (ii) Nghiên cứu xây dựng và thực thi các chính sách, quy định (đặc thù), khuyến khích sự phát triển thị trƣờng nông nghiệp, nông thôn; (iv) Tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo nghề cho ngƣời lao động cụ thể, rõ ràng; (v) Tăng cƣờng thực hiện xã hội hóa để huy động tối đa các nguồn lực nhằm mở rộng quy mô đào tạo nghề, thực hiện phối hợp, kết hợp các chƣơng trình đề án, chƣơng trình, dự án để đảm bảo các nguồn kinh phí cho công tác đào tạo nghề. Nghiên cứu về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Trung Quốc là nƣớc có tốc độ đô thị hóa cao, hàng năm số ngƣời lao động dịch chuyển từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị, từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp – xây dựng và dịch vụ là rất lớn. Các tác giả Jiabing Tian, Linbo Zhou (2013) đã nghiên cứu và có những kiến nghị chính sách liên quan đến việc đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch sang lao động tại khu vực phi nông nghiệp và đô thị trong giai đoạn mới.
Theo các tác giả, để giải quyết vấn đề đào tạo kỹ năng nghề cho lao động nhập cƣ Trung Quốc nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập xã hội và đô thị hóa, chính phủ phải có kế hoạch đào tạo khoa học cho lao động di cƣ thế hệ mới; tăng đầu tƣ của chính phủ; thúc đẩy đa dạng hóa các nguồn đầu tƣ; tạo môi trƣờng tốt; thiết lập cơ chế dài hạn và cung cấp đầy đủ các dịch vụ có thể hƣớng dẫn công việc của những ngƣời lao động nhập cƣ thế hệ mới của Trung Quốc từ một góc nhìn hoàn toàn mới. Kazi Aiman Udoy (2023) nghiên cứu các nhân tố tác động đến chính sách giáo dục và đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn Bangladesh. Tác giả cho rằng Giáo dục và Đào tạo Kỹ thuật và Đào tạo nghề (Technical and Vocational Education and Training - TVET) là một con đƣờng quan trọng để các cá nhân có đƣợc những kỹ năng cần thiết để thành công trong thị trƣờng lao động. Tuy nhiên, việc tham gia vào Đào tạo nghề ở vùng nông thôn Bangladesh thƣờng bị hạn chế do nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến việc tiếp cận các chƣơng trình nhƣ vậy.
Tác giả sử dụng dữ liệu chéo từ vòng thứ ba của Khảo sát hộ gia đình tích hợp Bangladesh (BIHS), một cuộc khảo sát đại diện trên toàn quốc về các khu vực nông thôn của bảy đơn vị hành chính của Bangladesh, đƣợc thực hiện vào năm 2018-19. Các tài liệu trƣớc đây xác định các yếu tố thể chế, kinh tế, xã hội và văn hóa là những yếu tố chính quyết định việc tham gia đào tạo nghề ở vùng nông thôn Bangladesh, bao gồm nghèo đói, chi phí, khả năng có việc làm, giới tính, trình độ học vấn của cha mẹ, ảnh hƣởng của bạn bè, chuẩn mực văn hóa và ngôn ngữ sử dụng phân tích định tính. Nghiên cứu áp dụng các phƣơng pháp định lƣợng để xác định các yếu tố quyết định việc tham gia TVET ở cấp hộ gia đình. Nghiên cứu áp dụng mô hình logit cho ngƣời trả lời mẫu để suy ra các nhân tố.
Nghiên cứu cho thấy quy mô hộ gia đình, 9 ngƣời lớn không đi học trong hộ gia đình, tổng tiết kiệm, tổng tài sản, chƣơng trình mạng lƣới an sinh xã hội, tình trạng thành thị và nông thôn và các thành viên làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có tác động đáng kể đến việc tham gia đào tạo nghề. Nghiên cứu cũng cho thấy không có tác động đáng kể nào của giới tính, tuổi tác và tình trạng hôn nhân đối với việc tham gia học nghề. Ở Việt Nam, các vấn đề về chính sách ĐTN cho LĐNT cũng thu hút đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nguyễn Sóng Hiền (2013) đã nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng chính sách và cơ chế quản lý đối với ĐTN cho LĐNT tại Việt Nam.
Tác giả đã đánh giá những kết quả bƣớc đầu từ thực tiễn triển khai Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Tác giả cho rằng cùng với các mục tiêu đào tạo, bồi dƣỡng, nâng cao trình độ cho LĐNT, đề án này cũng đã đƣa ra các cơ chế cụ thể cho từng đối tƣợng trong đề án nhƣ: Cơ chế đối với ngƣời học; cơ chế đối với giáo viên, giảng viên; và cơ chế đối với cơ sở đào tạo nghề cho LĐNT. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng thảo luận một số vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả ĐTN cho LĐNT trong tình hình hiện nay.
Các chính sách cần tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, chính quyền địa phƣơng, các cơ quan, doanh nghiệp và ngƣời lao động. Cơ chế quản lý đối với ĐTN cho LĐNT cần chú trọng vào công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án cấp tỉnh và cấp huyện về ĐNT cho LĐNT. Nguyễn Hồng Nhung (2017) nghiên cứu quá trình triển khai Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Thủ tƣớng Chính phủ tại các địa phƣơng. Tác giả nhận thấy rằng, nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong việc triển khai thực hiện Quyết định chủ yếu là nhận thức về công tác ĐTN cho LĐNT nƣớc ta còn yếu kém.
Nhiều bộ, ngành, địa phƣơng nhận thức chƣa đầy đủ về ĐTN cho LĐNT, coi ĐTN là biện pháp tình thế, có tính thời điểm, do vậy, chƣa có sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo các cấp; công tác điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề của LĐNT còn khó khăn. Bên cạnh đó, nhận thức về tầm quan trọng của việc học nghề của nhiều nông dân chƣa đầy đủ, nhiều gia đình chỉ cho con em học nghề khi không đủ điều kiện vào các trƣờng đại học, cao đẳng. Các chƣơng trình trong lĩnh vực nông nghiệp nhƣ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngƣ tuy thu đƣợc một số hiệu quả, nhƣng vẫn chƣa tạo đủ sức mạnh để hình thành đƣợc các ngành, nghề mới ở nông thôn. Ở nhiều nơi, ĐTN không gắn với đặc điểm và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, không tận dụng đƣợc thế mạnh vùng miền.
Tình trạng ĐTN không gắn với định hƣớng nghề nghiệp và giải quyết việc làm còn tồn tại, khiến một bộ phận ngƣời lao động học nghề xong không có việc làm, gây lãng phí nguồn lực. Từ thực trạng nghiên cứu, tác gủa đã đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cƣờng hiệu quả công tác ĐTN cho 10 LĐNT nhƣ: (i) thay đổi nội dung chƣơng trình ĐNT cho LĐNT theo hƣớng thiết thực, hiệu quả; (ii) ĐTN cho LĐNT cần áp dụng các phƣơng pháp giảng dạy hợp lý, linh hoạt gắn với trình độ và đặc điểm của lao động địa phƣơng; (iii) tích cực ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào quá trình ĐTN cho LĐNT; (iv) ĐTN cho LĐNT cần gắn với tạo việc làm và định hƣớng nghề nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Nhung cho thấy việc triển khai chính sách về ĐTN cho LĐNT tại nhiều địa phƣơng ở nƣớc ta còn mang nặng tính hình thức, chƣa gắn với tình hình thực tiễn. Các nội dung nghiên cứu là những gợi ý có giá trị trong việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách ĐTN cho LĐNT trong giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là đối với việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách ĐTN cho LĐNT ở một địa phƣơng cụ thể.
Phan Chính Thức (2013) nghiên cứu nội dung của vấn đề ĐTN gắn với nhu cầu xã hội, từ đó có những khuyến nghị liên quan đến việc hoàn thiện chính sách. Những khuyến nghị bao gồm: (i) đổi mới tƣ duy, nhận thức về ĐTN, ĐTN phải hoạt động trong khuôn khổ thị trƣờng đào tạo, thị trƣờng việc làm, chịu sự tác động của quy luật thị trƣờng; (ii) Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin về thị trƣờng đào tạo, thị trƣờng lao động, việc làm; (iii) Quy hoạch mạng lƣới cơ sở đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội về cơ cấu nghề, cơ cấu trình độ đào tạo và chất lƣợng đào tạo; (iv) Bổ sung danh mục nghề, đổi mới mục tiêu, nội dung, chƣơng trình đào tạo và phƣơng pháp đào tạo theo hƣớng cầu của xã hội; (v) Hoàn thiện hệ thống chính sách liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng; (vi) Hoàn thiện chính sách bảo đảm chất lƣợng đào tạo nghề;(vii) Hoàn thiện chính sách tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; (vii) Thực hiện chính sách xã hội hóa trong đào tạo nghề.