Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Cơ sở lý luận về lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động nông thôn Theo một số tài liệu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), lực lượng lao động được hiểu là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ở nước ta, theo Bộ Luật lao động số 10/2012/QH13 định nghĩa: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. [1] Khái niệm về nông thôn khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước đang phát triển, việc phân biệt nông thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội.
Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường và phát triển hàng hóa (so với đô thị là thấp hơn). Cũng có ý kiến, nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác 6 định, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng đô thị.
Một quan điểm khác lại nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, những ý kiến trên chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp - dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác, có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những thị trấn, đô thị nhỏ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển. Vì thế, trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam nếu nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: Theo Phan Kế Vân (2011): “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác; phân biệt với đô thị”. [1] Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Việt Nam hiện nay có khoảng 66% dân số sinh sống ở nông thôn. Đặc điểm lao động nông thôn: - Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, hoạt động sản xuất ở nông thôn có độ tuổi từ đủ 15 tuổi trở lên.
Số lượng lao động nông thôn trong độ tuổi lao động có xu thế tăng do cung và cầu lao động ở nông thôn chưa cân đối. Ở khu vực nông thôn cầu lao động tăng chậm làm cho tình hình cung cầu trên thị trường lao động mất cân đối lớn. Nguyên nhân chính do hậu quả để lại của 7 mức sinh cao 15-20 năm trước dẫn đến số người bước vào độ tuổi lao động tăng cao trong những năm gần đây. Cơ hội tạo ra là nguồn cung lao động dồi dào nhưng thách thức đi kèm là vấn đề giải quyết việc làm.
Sự phát triển của quá trình đô thị hoá và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân số giữa nông thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như lực lượng lao động so với cả nước ngày càng giảm. Mặc dù vậy, quy mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn nước ta vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ khá cao do tỷ lệ dân số và lao động ở khu vực nông thôn rất cao. - Lao động nông thôn mang tính thời vụ: Đây là đặc điểm gắn liền với tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau.
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau. Như vậy tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân. - Lao động nông thôn có tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhưng tỷ lệ thiếu việc làm khá cao: Tình trạng thiếu việc làm đang là vấn đề thời sự đối với lao động nông thôn. Khu vực nông thôn tập trung đại bộ phận lực lượng lao động của cả nước, tốc độ tăng khoảng hơn 2,5%/năm.
Thời gian lao động trung bình chưa sử dụng của cả nước có xu hướng giảm xuống, nếu năm 2008 là 28,2% thì năm 2010 còn 22,4%. Với lực lượng lao động ở nông thôn năm 2010 là 40,9 triệu người và thời gian lao động chưa sử dụng trung bình cả nước là 24,4%, nếu quy đổi thì sẽ tương đương khoảng 7,5 triệu người không có việc làm [1]. - Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn nước ta còn thấp. Lao động nông thôn phần lớn chưa qua đào tạo (>80%) dẫn đến không thể tiếp cận các công việc có thu nhập cao, mặt khác khả năng cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường việc làm của lao động 8 nông thôn không kịp thời làm giảm khả năng tự tạo việc làm.
Do vậy các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ lao động nông thôn tự tạo việc làm cũng như tạo ra việc làm mới cho lao động nông thôn đang là vấn đề cấp bách và thiết thực. - Đặc điểm của lao động nông thôn Việt Nam là phần lớn nằm trong khu vực kinh tế phi chính thức, tính ổn định không cao (90% không có hợp đồng lao động). Thu nhập của lao động nông thôn còn thấp, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không nhiều, rủi ro trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp rất lớn. Khả năng tự tạo việc làm và tìm việc làm của lao động nông thôn không cao.
Do vậy tạo việc làm, xúc tiến việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn chủ yếu dựa vào các chương trình đầu tư công của Chính phủ. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm Theo Bộ luật Lao động năm 2012: “1. Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. [8] - Đào tạo nghề: Khái niệm đào tạo thường đi liền với giáo dục và thành một cặp đôi là giáo dục - đào tạo. Trong đó, giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo đức,.) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội. Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một nghề nào đó, sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới.
9 Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 thay thế Luật dạy nghề số 76/2006/QH11 tái khẳng định: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. [1] Ngày 27/11/2009, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Đề án đã nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn”.[9] - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, theo Nguyễn Đức Tĩnh (2010): “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giảng dạy truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”.