CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU 1.1- TÍNH CẤP THIẾT Trong tác phẩm “Hot, Flat and Crowded”, tác giả Thomas Firedman đã khẳng định: “Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động với nhiều đổi thay so với giai đoạn trước đây, một thế giới mà theo ngôn ngữ phổ biến hiện nay là “Nóng, Phẳng và Chật”. Nhận định này nhằm lý giải rằng thách thức về môi trường lớn nhất hiện nay mà nhân loại đang đối mặt, đó là một thế giới đang ngày càng nóng bức và chật chội hơn do sự ấm lên của Trái Đất và dân số tăng quá nhanh [1]. Song song với những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật và quá trình tăng trưởng kinh tế ở qui mô toàn cầu, con người đã và đang tác động vào thế giới tự nhiên nhiều hơn, như việc gia tăng khai thác tài nguyên, gia tăng phát thải vào môi trường các chất thải rắn, lỏng và khí. Hơn bao giờ hết, môi trường tự nhiên ngày càng quá tải, mà khả năng khôi phục không kịp để đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Để đáp lại những tác động đó, thiên nhiên dường như đã trút những cơn giận dữ trở lại cho con người, đó là các hiện tượng và thảm họa thiên tai khốc liệt, bao gồm: lũ lụt, hạn hán, trượt đất, động đất, sóng thần,… Thiên nhiên luôn luôn cho chúng ta biết trước được những dấu hiệu, mà dấu hiệu của sự chống trả này là biến đổi khí hậu (BĐKH). Trái Đất đang nóng dần lên do ảnh hưởng của các khí nhà kính. Hiện nay, khí nhà kính ngày càng phát thải không kiểm soát. Trữ lượng khí nhà kính lưu giữ nhiệt trong bầu khí quyển đang tích tụ với tốc độ chưa từng thấy.
Nồng độ khí nhà kính hiện nay đã lên tới 380 ppm (tính theo CO2eq), vượt quá ngưỡng tự nhiên suốt 650. Nhiệt độ trái đất đang tăn dẫn đến nguy cơ về hạn hán, lũ lụt, cháy rừng có thể xảy ra, sẽ ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi, nguồn tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật. Nhiệt độ trái đất nóng lên gây tan băng, mực nước biển có xu thế -1- tăng, tài nguyên nước bị thu hẹp, nguồn nước ngọt bị xâm chiếm, gia tăng nạn phá rừng. Vào tháng 4 năm 1991 tại Bangladesh, một trận bão kèm theo lốc xoáy đã tàn phá bờ biển phía Nam của nước này khiến hơn 138.000 người chết.
Cuối tháng 10 và 11 năm 1998, một cơn bão có tên Mitch đã giết chết ít nhất 9.000 người ở khu vực Trung Mỹ. Năm 1999, trận siêu bão Super Cyclone đổ bộ vào khu vực Đông Bắc bang Orrissa của Ấn Độ làm 10.000 người thiệt mạng. Tháng 9 năm 2004, trận lốc xoáy Jeanne đã tràn vào lãnh thổ Haiti cướp đi sinh mạng của hơn 3. Và cơn bão Kartrina chính là ví dụ cho thấy BĐKH nằm ngoài tầm kiểm soát như thế nào.
Ngày 29/8/2005, cơn bão đã tàn phá thành phố New Orleans (Mỹ) và nhiều nhà khí tượng học tin rằng sức mạnh khủng khiếp của nó có nguyên nhân là nước ở vịnh Mexico đã ấm hơn do trái đất nóng hơn [1]; Ngoài ảnh hưởng của các cơn bão, thì hiện tượng nước biển dâng do tan băng sẽ xua đuổi hàng triệu cư dân ra khỏi những vùng đất sinh sống đồng thời sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp tại địa phương. Càng hơn thế nữa, nước mặn chứa muối sẽ xâm nhập vào những lớp nước giếng ở cách xa vùng bị ngập dẫn đến nước sử dụng ngày càng khan hiếm. Không chỉ ảnh hưởng đến con người, mà đa dạng sinh học ngày càng bị mất đi, ví dụ thuyết phục nhất là loài cá heo Baiji, là loại động vật lớn đầu tiên bị tuyệt chủng trong 50 năm qua [1]. Những ảnh hưởng đó sẽ đe dọa mục tiêu phát triển bền vững mà nhân loại đã và đang theo đuổi đó là giảm mức đói nghèo, cải thiện điều kiện y tế, sức khỏe, dinh dưỡng và giáo dục,… sau đó, kéo theo một loạt các vấn đề về an ninh lương thực dẫn đến mâu thuẩn về quyền lợi và sự bất bình đẵng trong xã hội giữa người có và người không có.
Nếu vấn đề trên không được giải quyết, ngoài việc cướp đi sinh mạng của hàng triệu người, thì 40% dân nghèo nhất trên thế giới - khoảng 2,6 tỷ người - sẽ có một tương lai vô cùng bấp bênh [2]. Theo dự báo tại những vùng đồng bằng đông đúc dân cư như đồng bằng sông Hằng, sông Mê Kông và sông Nile, nước biển dâng cao 1m có thể ảnh hưởng tới 23,5 triệu người và làm giảm diện tích đất nông nghiệp -2- chính hiện nay ở mức ít nhất là 1,5 triệu ha. Nước biển dâng cao 2m sẽ ảnh hưởng thêm 10,8 triệu người và hủy hoại thêm ít nhất 969.000 ha đất nông nghiệp [5]. Chính vì những hậu quả ngày càng to lớn đó, Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã có lời kêu gọi và có những hoạt động rất tích cực để liên kết cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống lại BĐKH như Hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất 1979 đã ra tuyên bố kêu gọi chính phủ các nước nhận thức về mức độ nghiêm trọng và tiến hành các hành động nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH đối với con người; thành lập các nhóm chuyên viên liên chính phủ về BĐKH (IPCC) năm 1986 bởi tổ chức Khí Tượng Thủy Văn Thế Giới (OMM) và Chương Trình Liên Hiệp Quốc về Môi Trường (UNEP).
IPCC đã mời gọi hàng nghìn nhà khoa học từ 170 quốc gia thành viên cùng hợp tác để nghiên cứu và đưa ra các kịch bản BĐKH cho từng khu vực trên thế giới. Tại buổi công bố tóm tắt báo cáo năm 2007, chủ tịch Ủy Ban IPCC, ông Rajendra Pachauri nhận định rằng “Nếu chúng ta không có hành động gì trước năm 2012 thì mọi chuyện sẽ quá muộn. Những việc chúng ta làm trong hai hoặc ba năm tới sẽ quyết định tương lai của chúng ta. Đây chính là thời điểm quyết định” [37] và Báo cáo Phát triển con người năm 2007/2008 lại khẳng định “BĐKH khiến chúng ta phải chú ý tới tài sản chung của tất cả chúng ta, đó là Trái Đất - hành tinh của chúng ta.
Tất cả các quốc gia và tất cả mọi người trên Trái Đất đều có chung một bầu khí quyển” [2]. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH bằng cách xây dựng các kịch bản BĐKH cho từng khu vực trên phạm vi toàn quốc và sát cánh với cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến này. Theo Viện Tài nguyên Thế giới, Việt Nam phát thải khoảng 177 triệu tấn CO2 tương đương (CO2eq) trong năm 2005, là năm gần đây nhất có số liệu so sánh quốc tế. Trên cơ sở đó, Việt Nam được xếp thứ 35 về mức phát thải tuyệt đối trên thế giới, và chiếm khoảng 0,5% tổng lượng phát thải toàn cầu.
Mức phát thải bình quân đầu người giữ ở mức khoảng 2 tấn CO2eq, xếp thứ 111 trên thế giới và phát thải khí nhà kính ở Việt Nam được dự kiến sẽ tăng đáng kể theo thời gian [6]. -3- Những số liệu trên cho thấy Việt Nam không phải là nước thuộc các nước phát thải nhiều khí nhà kính cao nhưng những hậu quả của việc phát thải đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam qua các dự báo như: Ngân hàng Thế giới (WB) xếp Việt Nam là một trong 5 Quốc Gia chịu ảnh hưởng nặng nề do hiện tượng BĐKH và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) xếp TP HCM (là một trong những trung tâm phát triển mạnh về kinh tế xã hội của Việt Nam) nằm trong danh sách 10 thành phố trên Thế giới bị đe dọa nhiều nhất bởi BĐKH [3,7,10&11]. Mưa lũ, triều cường ở TP HCM ngày càng có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, tác động trực tiếp đến sự phát triển KTXH và đời sống của hàng triệu người dân thành phố [11]. TP HCM là một quần thể đô thị lớn nhất Việt nam và có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa; TP HCM là điểm đến chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
TP HCM thu hút nhiều người nhập cư từ khu vực nông thôn đến tìm việc làm và mức sống tốt hơn; Cho nên, dân số năm 2009 ở TP HCM đã đạt 7.165 nghìn người và các dự báo cho thấy dân số TP HCM sẽ lên tới 10 triệu người vào năm 2020 [6]. Vì vậy, chắc chắc TP HCM sẽ trở thành một siêu đô thị trong tương lai không xa. Do tình hình BĐKH như hiện nay, ở TP HCM có nhiều nơi ngập úng, triều cường dâng ngày càng cao, ngập mặn xảy ra ở nhiều nơi, nhiệt độ ngày càng nóng dần lên, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển kinh tế ngày càng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, văn hóa, giáo dục,. Chính những khó khăn đó, Bộ Tài Nguyên Môi Trường đã xây dựng kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam vào tháng 7 năm 2012 và đưa ra các Khung chương trình hành động liên quan đến mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, tiến bộ trong việc thực hiện các mục tiêu liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vẫn còn chậm chạp do cam kết của các cơ quan ngành còn yếu, nhận thức trong các cán bộ và sở ngành địa phương còn thấp, và những thách thức về năng lực ở tất cả các cấp. Bên cạnh đó, các quan ngại về môi trường và việc thích ứng với BĐKH vẫn chưa được lồng ghép vào các cấp lập -4- kế hoạch và xây dựng chương trình, đặc biệt trong quá trình lập kế hoạch đầu tư vào trong các kế hoạch sử dụng đất và tài nguyên của từng vùng cụ thể nhằm phát triển KTXH hướng tới sự phát triển bền vững [12]. Cho nên, đề tài này sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu cách thức lồng ghép các giải pháp ứng phó với BĐKH đối với một vùng cụ thể, đó là huyện Bình Chánh, TP HCM do các nguyên nhân chính sau: - Huyện Bình Chánh là một trong những quận huyện có khả năng ngập lụt nhiều nhất thành phố [13] - Là một trong những huyện đông dân nhất nước - Là cầu nối giao thương giữa TP HCM với các tỉnh miền Tây Nam Bộ - Là nơi tập trung nhiều KCN nhất TP HCM 1.2 - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu tổng quát Đánh giá mức độ tác động của BĐKH đến điều kiện tự nhiên và KTXH của huyện Bình Chánh theo các kịch bản BĐKH.