Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề đảm bảo sinh kế của người nghèo, hộ nghèo, dân tộc thiểu số Department for International Development (DFID) (1999). “Sustainable livelihoods guidance sheets” [78].
Khung phân tích DFID đặt con người vào trung tâm của sự phát triển. Về bản chất, đó là một cách đặt mọi người vào trung tâm của phát triển, do đó tăng hiệu quả của hỗ trợ phát triển. Nghiên cứu này cố gắng tóm tắt và chia sẻ những tư duy mới nổi về tính bền vững cách tiếp cận sinh kế. Nó không đưa ra câu trả lời và hướng dẫn dứt khoát.
Thay vào đó, nó nhằm mục đích kích thích người đọc suy ngẫm về cách tiếp cận của chính họ và đóng góp vào sự phát triển hơn nữa của lý thuyết sinh kế bền vững. Ailsa Holloway, et al (2002). Learning about livelihoods. Published simultaneously by Periperi Publications in South Africa and Oxfam GB in the UK.
Cuốn sách là một hướng dẫn để hiểu và áp dụng khung sinh kế bền vững. Nó cung cấp những ý tưởng thiết thực về cách sử dụng khung sinh kế này để cung cấp thông tin cho sự phát triển và lập kế hoạch dự án ở các cấp độ. Cuốn sách này không nhằm mục đích trở thành một khung đào tạo chính xác về sinh kế, hoặc nghiên cứu cuối cùng về chủ đề phức tạp này. Đúng hơn, nó đại diện cho một đóng góp cho lĩnh vực này.
Cuốn sách này bao gồm sổ tay dành cho hỗ trợ viên và các nghiên cứu điển hình được quay phim từ năm quốc gia Nam Phi. Cuốn sổ tay bao gồm mười bài huấn luyện các buổi học nâng cao hiểu biết về các yếu tố khiến gia đình nghèo dễ bị tổn thương, cũng như những điểm mạnh vốn có của họ. Sau đó, nó khám phá cách những hiểu biết sâu sắc có thể được áp dụng trong thực tế. Hahn M B, Riederer AM & Foster SO (2009), The livelihood Vulnerability Index: A gragmatic approach to assessing risks from climate variability and change – A 11 case study in Mozambique [81].
Global Enviromental Change, 19 (1). Đã xây dựng chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) trên cơ sở phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, tác giả chỉ ra 8 thành phần gồm: thông tin về dân tộc, nhân khẩu, sức khỏe, mối quan hệ xã hội, thức ăn, nguồn nước, thiệt hại tự nhiên và biến đổi khí hậu với 28 chỉ tiêu đánh giá. Teresa–Chang Hung Tao (2006), Fujun Shen (2009), Tourism as a livelihood strategy in indigenous communities: Case studies from Taiwan. UWSpace, Tourism and the sustainable livelihoods approach: Application within the Chinese context [105].
A thesis submitted in partial fulfilment of the requirements for the Degreeof Doctorof Philosophyat Lincoln University. Nghiên cứu này cho rằng hoạt động du lịch như là một chiến lược sinh kế bền vững cho cư dân sinh sống ở Đài Loan, Trung quốc. Lợi thế nguồn lực phát triển du lịch là cơ sở để thực hiện mục đích chuyển đổi sinh kế và cải thiện hoạt động sinh kế kém bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Từ đó, địa phương nên thực hiện các hỗ trợ để chuyển đổi sinh kế.
Ngoài ra, thực hiện sinh kế du lịch bền vững phải kết hợp với sinh kế nông thôn bền vững, du lịch nông thôn. Shaheen Akter và Sanzidur Rahman (2012), Investigating Livelihood Security in Poor Settlements in Bangladesh [102]. Conference of the Agricultural Economics Society, University of Warwick, United Kingdom. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các vấn đề về an ninh kinh tế, thực phẩm, dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, trao quyền, an toàn môi trường… ảnh hưởng mức độ bền vững của sinh kế.
Mỗi vấn đề có tác động khác nhau, các chỉ số được tiêu chuẩn hóa theo cách tiếp cận đo lường khác nhau Morse, S. (2013), Sustainable Livelihood Approach A Critique of Theory and Practice. Publisher: Springer (February 20, 2013) Nhóm tác giả đặt câu hỏi làm thế nào chúng ta có thể áp dụng các nguyên tắc bền vững trong thế giới thực, vào tận cùng của các cộng đồng ở các quốc gia đang phát triển, nơi mà sự mất an toàn về thu nhập là một tiêu chuẩn đáng lo ngại? Cuốn sách này cung cấp một số câu trả lời thực tế, giải thích các quy tắc của “phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững” (SLA) thông qua nghiên cứu điển hình về một chương trình tài chính vi mô ở Châu Phi. Cuốn sách kết luận rằng chúng ta phải vượt ra ngoài khái niệm về sinh kế bền vững, với sự phân cực đã được xây 12 dựng giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, và chấp nhận một khái niệm toàn cầu hơn về “lối sống bền vững”; một cách tiếp cận mang nhiều sắc thái hơn và toàn diện hơn, không chỉ bao gồm cách chúng ta kiếm sống bền vững mà còn bao gồm cách chúng ta có thể sống một cuộc sống bền vững.
Caroline Dyer (2014), Livelihoods and Learning: Education For All and the marginalisation of mobile pastoralists. Cuốn sách chỉ ra rằng các mô hình phát triển hiện tại thường phục vụ kém cho các nhóm chăn gia súc di động. Khả năng hiện diện của họ trong các quy trình chính sách là rất ít và tính di động của họ được xây dựng bởi những người có quyền lực như một "vấn đề", chứ không phải là một chiến lược sinh kế hợp lý. Tác giả cho rằng các hệ sinh thái ngày càng bị phá hủy, tài nguyên thiên nhiên bị thu hẹp, toàn cầu hóa và đô thị hóa gây áp lực lên sinh kế của người chăn nuôi.
Cuốn sách đề cập đến mối quan hệ giữa giáo dục, nghèo đói và phát triển đã được hình thành như thế nào. Mahmuda Mutahara, et al (2016), Development of a sustainable livelihood security model for stormsurge hazard in the coastal areas of Bangladesh. Stoch Environ Res Risk Assess (2016) 30:1301–1315. Trong nghiên cứu này, bảy (7) nhóm sinh kế cận biên được xác định bao gồm các cơ hội sinh kế cụ thể và các nguồn lực của họ trong hai khu vực nghiên cứu (Cox’s Bazar và Satkhira) ở Bangladesh.
Cụ thể, sáu (6) nhóm đã sống ở khu Cox’s Bazar và năm (5) nhóm ở Satkhira. Tuy nhiên, bốn (4) nhóm sinh kế (nông dân, ngư dân, người thu gom (tôm) và người làm công ăn lương) là phổ biến ở cả hai địa điểm. An ninh sinh kế là một vấn đề bất lực ở các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề của bờ biển Bangladesh. Nó không chỉ do điều kinh tế xã hội mà còn do dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu.
Trong nghiên cứu này, mô hình an ninh sinh kế có hai kết quả chính. Đầu tiên, nó đã giới thiệu một cách tiếp cận phân tích toàn diện để đánh giá mức độ an ninh sinh kế. Thứ hai, nó đóng góp một công cụ bảo vệ sinh kế và phát triển hệ thống cho vùng ven biển. Chỉ số an ninh Sinh kế (SI) đã tính toán mức độ an ninh chung của hộ gia đình (tính bằng %) cho các nhóm sinh kế chống lại nguy cơ triều cường.
Molosi (2020), Empowering Botswana’s rural communities through the Sustainable Livelihood approach: Opportunities and constraints. ASEAN Journal 13 of Community Engagement (AJCE). Bài báo chỉ ra rằng Chính phủ và các bên liên quan đến phát triển khác ở nhiều quốc gia đang ngày càng đầu tư nhiều hơn vào việc trao quyền cho người dân và cộng đồng như một yếu tố then chốt để cải thiện kết quả phát triển bền vững. Trọng tâm này xoay quanh niềm tin rằng đặt cộng đồng lên hàng đầu trong phát triển và tạo sinh kế là một cách hiệu quả để thúc đẩy cộng đồng phát triển các cách thức sáng tạo để giải quyết các vấn đề cộng đồng của chính họ và tạo ra sinh kế bền vững.
Nghiên cứu sinh kế bền vững gắn với biến đổi khí hậu Muhammad Asiful Basar (2009), Climate Change, Loss of Livelihood and the Absence of Sustainable Livelihood Approach: A Case Study of Shymnagar, Bangladesh [95]. Master In Asian Studies. Nghiên cứu đã đưa ra bốn phát hiện chính: 1) khí hậu có những thay đổi lớn trong vài thập kỷ qua ở Sundarbans; 2) do biến đổi khí hậu, các mô hình sinh kế của các cộng đồng ven biển trong SRF cũng đang thay đổi; 3) Nuôi tôm nước lợ không có kế hoạch đã gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng trong SRF và độ mặn đã tăng lên trong vài thập kỷ qua, 4) những nguồn tài nguyên dễ bị tổn thương đang thiếu hụt để này cộng đồng đạt được sinh kế bền vững, điều này càng làm tăng tính dễ bị tổn thương Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra ở các khu vực khác nhau của Bangladesh, đặc biệt là ở khu vực rừng ngập mặn Sundarbans, nơi các cộng đồng bị thiệt thòi trở nên dễ bị tổn thương hơn. Người ta cũng phát hiện ra rằng những cộng đồng này có rất ít kiến thức về biến đổi khí hậu và các tác động của nó trong tương lai.
Hầu hết họ thậm chí không biết nơi họ sẽ di chuyển nếu đất của họ bị nhấn chìm do mực nước biển dâng. Mukesh Kumar Chhetri. Chỉ ra 44 chỉ tiêu dựa trên 13 thành phần chính thuộc năm nguồn vốn sinh kế. Chỉ số tổn thương là tổng hợp trên 3 chỉ số thành phần (biểu hiện, tính nhạy cảm và chỉ số năng lực thích ứng).
Kết quả cho thấy có 8/13 thành phần có chỉ số tổn thương trên 0,5 nguồn vốn tài chính tổn thương cao nhất (0,7), nguồn lực con người và nguồn lực tự nhiên có chỉ số tổn thương lớn hơn 0,5. Nghiên 14 cứu cũng chỉ ra rằng sau khi nuôi tôm thương phẩm vào đầu những năm 80 trở nên phổ biến, một lượng lớn đất trồng trọt đã được chuyển đổi thành nuôi tôm, điều này sau đó đã gây ra chuyển đổi đáng kể các sinh kế dựa vào nông nghiệp sang các sinh kế không ổn định hơn lấy tôm làm trung tâm. CARE International in Vietnam (2013), Action Research on Climate-resilient Livelihoods for Land-poor and Landless people. Used by permission.
Các nhà nghiên cứu cho rằng vùng đông dân cư, vùng trũng trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực chịu tác động mạnh mẽ nhất do biến đổi khí hậu trên thế giới. BĐKH sẽ đem lại những hậu quả nghiêm trọng cho sinh kế hiện tại và tương lai tại Việt nam, đặc biệt trong lãnh vực nông nghiệp và thủy sản, cho người dân ít đất và dân nghèo, phụ nữ và các nhóm dân tộc thiểu số.