MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hƣởng tiêu cực đến cuộc sống của con ngƣời trên mọi lĩnh vực, cả về môi trƣờng và kinh tế - xã hội. Biến đổi khí hậu kéo theo thiên tai các hiện tƣợng thời tiết cực đoan làm tăng tần suất, cƣờng độ bão, nhiệt độ trái đất ấm dần, nƣớc biển dâng, ngập lụt, hạn hán, mƣa lớn và sạt lở đất… gây thiệt hại cả về ngƣời, tài sản ở nhiều quốc gia, đặc biệt là khu vực ven biển. Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có trên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sông Hồng - Thái Bình có độ cao dƣới 2,5m so với mặt biển.
Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới đƣợc dự báo chịu ảnh hƣởng nhiều nhất của Biến đổi khí hậu, hiện 70% dân số Việt Nam đang phải đối mặt với những diễn biến tiêu cực và rủi ro từ thiên tai. Trong bối cảnh diễn biến của biến đổi khí hậu hiện nay, một trong những mục tiêu cụ thể đƣợc đặt ra trong Chiến lƣợc Quốc gia về Biến đổi khí hậu là tăng cƣờng năng lực thích ứng với Biến đổi khí hậu của con ngƣời, phát triển nền kinh tế theo hƣớng tăng trƣởng xanh, nhằm bảo vệ và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân, trên cơ sở đó bảo đảm an ninh con ngƣời và phát triển bền vững quốc gia. Nhƣ vậy, Chiến lƣợc Quốc gia về Biến đổi khí hậu đã đặt vào trọng tâm là lợi ích và sự phát triển của con ngƣời. Thông qua đó phát huy vai trò của con ngƣời trong việc chủ động ứng phó với những biến động môi trƣờng và giảm thiểu những tác hại của thiên tai.
Theo các nhà khoa học chuyên nghiên cứu lĩnh vực biến đổi khí hậu, ở nƣớc ta, biến đổi khí hậu đƣợc coi là vấn đề của toàn dân và toàn hệ thống chính trị, mang tính cơ bản và lâu dài đối với sự phát triển nói chung. Đây là vấn đề của nhiều thế hệ con ngƣời. Thực tế trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy, hoạt động xây dựng cộng đồng ứng phó với thiên tai là một trong những biện pháp hiệu quả 1 z nhất, vừa phát huy đƣợc vốn xã hội, phát huy đƣợc các thế mạnh và sáng kiến của cộng đồng, vừa tiết kiệm đƣợc chi phí từ phía đầu tƣ công. Với đặc điểm là các xã ven biển của huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, 08 xã: Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Thành, Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Kim, Diễn Hải, Diễn Hùng chịu ảnh hƣởng rõ nét của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt là tác động của tai biến bão, dâng cao mực nƣớc biển, xâm nhập mặn.BĐKH đã và đang phần nào ảnh hƣởng đến đời sống và sinh kế của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng.
Để tăng cƣờng năng lực và sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiểu biết của ngƣời dân với Biến đổi khí hậu. Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên lựa chọn đề tài “Đánh giá năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cƣ ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”. Mục tiêu của đề tài: - Đánh giá đƣợc năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cƣ vùng nghiên cứu nhằm duy trì và phát triển sinh kế cho ngƣời dân tại địa phƣơng. - Đề xuất các giải pháp thích hợp nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của dân cƣ ven biển huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Biến đổi khí hậu và năng lực ứng phó 1. Các khái niệm về Biến đổi khí hậu BĐKH (Climate Change hoặc Climatic Change) xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ.
Sự thay đổi của khí hậu đƣợc quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc [1]. Định nghĩa BĐKH của Hiệp hội Khí tƣợng Mỹ (American Meteorological Society-AMS): Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua hàng chục năm hoặc lâu hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên, nhƣ các thay đổi trong quá trình phát năng lƣợng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay trái đất, hoặc do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khí hậu; hoặc do các tác động từ các hoạt động của con ngƣời. Theo Công ƣớc khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC - United Nations Framework Convention on Climate Change, 2001) “Những ảnh hƣởng có hại của biến đổi khí hậu” nghĩa là những biến đổi trong môi trƣờng vật lý hoặc sinh học do những biến đổi khí hậu gây những ảnh hƣởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và đƣợc quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con ngƣời.
Khi biến đổi khí hậu là thách thức thực sự cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong tƣơng lai, thì công tác ứng phó với biến đổi khí hậu đƣợc đánh giá là hoạt động ƣu tiên của bất kỳ địa phƣơng, quốc gia, lãnh thổ nào trên thế giới. Ứng phó với BĐKH bao gồm 2 mảng: thích ứng và giảm nhẹ. Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vấn đề của BĐKH. Giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH có một số 3 z điểm chung nhƣ có thể bổ sung, thay thế, độc lập hoặc cạnh tranh nhau và có những đặc điểm, khung thời gian rất khác nhau.
Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đều đƣợc thực hiện trên cùng một quy mô địa phƣơng hay khu vực và có thể đƣợc thúc đẩy bởi những ƣu tiên và mối quan tâm của địa phƣơng, khu vực cũng nhƣ quan tâm toàn cầu. Giảm nhẹ BĐKH mang lại lợi ích toàn cầu, và do đó mang lại lợi ích cho địa phƣơng cũng nhƣ khu vực. Trong khi đó thích ứng với BĐKH chủ yếu trên quy mô của hệ thống bị ảnh hƣởng bởi BĐKH, tốt nhất là quy mô khu vực nhƣng hầu hết là quy mô địa phƣơng. Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên và con ngƣời để ứng phó với các tác nhân khí hậu hiện tại và tƣơng lai, nhƣ làm giảm những thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội do nó mang lại.
Thích ứng với BĐKH bao gồm sự chủ động và các biện pháp giảm thiểu mức độ tổn thƣơng của hệ thống tự nhiên và con ngƣời chống lại các ảnh hƣởng hiện tại và ảnh hƣởng đƣợc dự báo trong tƣơng lai do BĐKH [16]. KNTƢ với BĐKH là sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi nhằm làm giảm mức độ tổn thƣơng do dao động và biến đổi của khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [1]. KNTƢ với BĐKH là năng lực của xã hội để thay đổi theo cách làm cho xã hội đƣợc trang bị tốt hơn để có thể quản lý những rủi ro hoặc nhạy cảm từ những ảnh hƣởng của BĐKH [19]. Theo Ban chỉ đạo Chƣơng trình hành động thích ứng với BĐKH ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trƣớc, đƣợc đƣa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH.
Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thƣơng, là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH. Giảm nhẹ BĐKH là sự can thiệp của con ngƣời nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính và tăng bể chứa khí nhà kính (IPCC, 2001) 4 z Giảm nhẹ BĐKH là sự can thiệp của con ngƣời nhằm giảm ảnh hƣởng bất lợi đối với BĐKH; giảm nhẹ BĐKH bao gồm cả chiến lƣợc giảm nguồn phát thải và tăng bể chứa khí nhà kính (Canadian Geographic, 2008). Giảm nhẹ BĐKH là những thay đổi về kỹ thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính. Mặc dù một số chính sách về xã hội, kinh tế và kỹ thuật có thể giảm sự phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ BĐKH mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa các khí nhà kính [16].
Giảm nhẹ BĐKH là sự can thiệp của con ngƣời nhằm giảm nguồn phát thải hoặc tăng bể chứa các khí nhà kính. Ví dụ việc sử dụng năng lƣợng hóa thạch một cách hiệu quả hơn cho các hoạt động công nghiệp hoặc sản xuất điện, chuyển sang sử dụng các nguồn năng lƣợng tái tạo (năng lƣợng mặt trời và năng lƣợng gió) và mở rộng diện tích rừng và các bể chứa khác nhằm giảm nhẹ CO2trong khí quyển (UNFCCC, 2011). Nhƣ vậy, năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của địa phƣơng là khả năng của địa phƣơng trong phòng chống, phục hồi, chuyển hoá những thách thức khó khăn đƣợc gây ra bởi BĐKH thành cơ hội phát triển và giảm nhẹ thiên tai. Đó là sự kết hợp của tất cả các điểm mạnh, thuộc tính và nguồn lực sẵn có cho một cá nhân, cộng đồng, xã hội, hoặc tổ chức có thể đƣợc sử dụng để chuẩn bị và thực hiện các hành động để giảm tác động xấu, giảm thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi.
Các phương thức ứng phó với Biến đổi khí hậu Các nhóm giải pháp thích ứng Các giải pháp thích ứng với BĐKH đƣợc đề cập và xây dựng rất đa dạng. Theo Báo cáo đánh giá thứ 2 của IPCC (1995), có 228 giải pháp thích ứng BĐKH khác nhau đã đƣợc mô tả. Các giải pháp thích ứng BĐKH đƣợc chia thành 8 nhóm khác nhau: Chấp nhận tổn thất: Các phƣơng pháp thích ứng khác có thể đƣợc so sánh với cách phản ứng cơ bản là “không làm gì cả”, ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận những tổn thất.