Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Khương có tiêu đề "Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay", được thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Nguyễn Minh Hoàn, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05), bảo vệ năm 2014.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, nhân loại đang đối mặt với những thách thức toàn cầu nghiêm trọng, bao gồm biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sinh thái. Thực trạng này ảnh hưởng sâu sắc đến hệ sinh thái tự nhiên, đe dọa tăng trưởng kinh tế, an ninh môi trường, an ninh năng lượng và an ninh lương thực toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc các quốc gia thường ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó, việc thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là đòi hỏi tất yếu của tiến trình phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.
Tại Việt Nam, việc duy trì mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên trong thời gian dài đã dẫn đến tình trạng chất lượng môi trường sinh thái suy giảm nhanh chóng, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp, tài nguyên cạn kiệt, đe dọa mục tiêu phát triển bền vững. Nhằm khắc phục hạn chế này, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương đổi mới mô hình phát triển theo hướng toàn diện: phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Mặc dù giai đoạn 2001 - 2010 kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP ước tính khoảng 7,2%/năm, đưa đất nước ra khỏi nhóm kém phát triển để gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, thực tế quản lý và khai thác tài nguyên vẫn còn lãng phí, môi trường sinh thái nhiều nơi xuống cấp báo động. Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ tư duy coi trọng kinh tế xem nhẹ môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu, áp lực gia tăng dân số và đô thị hóa, trong khi thể chế, chính sách, nguồn lực đầu tư và hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương còn nhiều bất cập, thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần luận giải một cách hệ thống dưới góc độ triết học về vai trò của Nhà nước nhằm giải quyết thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở xác lập vấn đề, luận án đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái.
- Phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra và các mâu thuẫn đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt học thuật/lý thuyết: Luận án tiếp cận vấn đề dưới góc độ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét chức năng xã hội của Nhà nước với tư cách là nhân tố quan trọng thuộc kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế và môi trường tự nhiên.
- Về không gian: Phạm vi thực tiễn tại Việt Nam.
- Về thời gian: Tập trung khảo cứu giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1996 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2014).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung chính:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Các hướng nghiên cứu trước đây được tổng thuật
| Hướng nghiên cứu | Tác giả, công trình tiêu biểu | Nội dung và luận điểm chính được ghi nhận trong luận án |
|---|---|---|
| Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế | - Trần Thọ Đạt (2000s) - Trần Văn Tùng (2000s) - Tạp chí Lý luận chính trị (2010) - Nguyễn Thị Doan (2010s) - Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty (2000s) - Nguyễn Phú Trọng (2010s) - Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt (2000s) |
Làm rõ nội hàm khái niệm tăng trưởng kinh tế (TTKT), các mô hình tăng trưởng (Keynes, Harrod-Domar, tân cổ điển mở rộng, tăng trưởng nội sinh). Đánh giá giai đoạn 2001 - 2010 Việt Nam tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7,2%/năm nhưng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào vốn và khai thác tài nguyên thô, năng suất và sức cạnh tranh thấp. |
| Nghiên cứu về môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái | - Nguyễn Minh Hằng (2000s) - Phạm Thị Ngọc Trầm (2000s) - Nguyễn Văn Kim (2000s) - Đỗ Huy (2000s) - Phan Thị Hồng Duyên (2000s) - Vũ Trọng Dung (2000s) - Nguyễn Danh Sơn (2010s) |
Tiếp cận môi trường sinh thái (MTST) như một mạng lưới chỉnh thể giữa đất, nước, không khí và cơ thể sống; phân tích mối quan hệ con người - xã hội - tự nhiên. Đề xuất xây dựng đạo đức sinh thái, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường từ ấu thơ đến trưởng thành; chỉ ra bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản trong việc luật hóa chính sách môi trường. |
| Nghiên cứu về kết hợp TTKT với bảo vệ MTST | - Chu Thái Thành (2000s) - Nguyễn Đình Hòa (2000s) - Trần Đắc Hiến (2000s) - Trương Mạnh Tiến (Luận án TS Kinh tế) - Bùi Văn Dũng (Luận án TS Triết học) |
Xác định phát triển bền vững dựa trên 4 trụ cột: kinh tế, dân số, tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ MTST. Phân tích tác động của tự do hóa thương mại, công nghiệp hóa nông nghiệp đến môi trường; khẳng định mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường trong nền sản xuất vật chất cần được giải quyết bằng đồng bộ các giải pháp thể chế, công nghệ và chính sách. |
| Nghiên cứu về vai trò của Nhà nước | - Nguyễn Văn Hậu - Lê Thị Hồng - Mai Lan Hương - Trần Thị Thu Hường - Ngô Quang Minh - Lương Xuân Quỳ, Đỗ Đức Bình - Trần Thành - Lê Thị Thanh Hà - Nguyễn Thị Ngọc Lan - Trần Thanh Lâm - Phạm Hữu Nghị - Hoàng Hữu Bình |
Phân tích chức năng định hướng XHCN, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của Nhà nước. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trường, chỉ ra những hạn chế như hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, công cụ kinh tế chưa phát huy hiệu quả và đề xuất cải cách thể chế hành chính, hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình tiền nhiệm đã tiếp cận vấn đề tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường hoặc vai trò của Nhà nước dưới nhiều góc độ (kinh tế học, xã hội học, luật học), song phần lớn nghiên cứu riêng rẽ từng khía cạnh. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện vai trò của Nhà nước đối với sự kết hợp hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tập trung nhận diện các mâu thuẫn thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn từ 1996 đến 2014 và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa con người, xã hội và giới tự nhiên; quan điểm về vai trò của kiến trúc thượng tầng (Nhà nước) tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế; cùng hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Khung phân tích: Luận án xem xét Nhà nước thông qua chức năng xã hội và công cụ quản lý vĩ mô (pháp luật, chiến lược, quy hoạch, cơ chế chính sách, công cụ kinh tế, thanh tra giám sát). Sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái được phân tích như một chỉnh thể tất yếu của phát triển bền vững, giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong nền sản xuất vật chất.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án hoàn toàn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp luận triết học mác-xít, không áp dụng mô hình định lượng hay phân tích kinh tế lượng:
- Phương pháp luận chung: Nguyên tắc phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lôgíc và lịch sử: Phân tích quá trình phát triển nhận thức, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước từ năm 1996 đến 2014.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Bóc tách các yếu tố cấu thành vai trò của Nhà nước, thực trạng suy thoái môi trường và các chỉ số kinh tế tổng hợp.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Khái quát các mâu thuẫn thực tiễn từ hoạt động quản lý tại các ngành, địa phương để rút ra các luận điểm lý luận.
- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, khảo sát, tra cứu, đối chiếu và so sánh: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ văn kiện, báo cáo tổng kết, văn bản quy phạm pháp luật và kết quả nghiên cứu khoa học liên quan.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Tư liệu nghiên cứu được trích xuất từ các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam; hệ thống luật (Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các dự thảo sửa đổi), Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh; cùng số liệu tổng kết kinh tế - xã hội giai đoạn 2000 - 2010 từ các cơ quan Trung ương và Tạp chí Lý luận chính trị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật 4 nhóm tài liệu lớn gồm: nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế; nghiên cứu về môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu về sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái; và nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong hai lĩnh vực trên.
- Luận án phân tích sự đồng thuận học thuật về việc tăng trưởng kinh tế không đồng nhất hoàn toàn với phát triển kinh tế bền vững.
- Tổng hợp số liệu tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 - 2010 của Việt Nam đạt khoảng 7,2%/năm, khẳng định bước tiến đưa đất nước vào nhóm thu nhập trung bình nhưng chỉ rõ mô hình tăng trưởng vẫn nghiêng nặng về yếu tố vốn, khai thác tài nguyên thô và năng lượng tiêu hao cao.
- Khái quát các khái niệm môi trường sinh thái dưới góc nhìn triết học - xã hội, chỉ ra tự nhiên - con người - xã hội là một chỉnh thể tương tác đa chiều.
- Khẳng định khoảng trống cần giải quyết là nghiên cứu vai trò tích hợp của Nhà nước trong xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái từ năm 1996 đến nay.
Chương 2: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái - Yêu cầu của sự phát triển bền vững và vai trò của Nhà nước trong sự kết hợp đó
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý luận của đề tài thông qua hai nội dung chính:
- Tính tất yếu của sự kết hợp (Tiết 2.1): Phân tích cơ sở lý luận khẳng định phát triển bền vững đòi hỏi phải gắn kết hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Luận giải quy luật tác động qua lại giữa con người và tự nhiên trong sản xuất vật chất; chứng minh việc khai thác tài nguyên quá mức và công nghệ lạc hậu sẽ dẫn tới khủng hoảng môi trường, đe dọa chính tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn.
- Nội dung vai trò của Nhà nước (Tiết 2.2): Xác định Nhà nước là chủ thể trung tâm giữ vai trò định hướng, kiến tạo hành lang pháp lý, tổ chức thực hiện và điều tiết các nguồn lực xã hội. Vai trò của Nhà nước thể hiện qua việc ban hành hệ thống thể chế, chiến lược, quy hoạch phát triển; sử dụng công cụ tài chính, thuế, phí môi trường; đầu tư công cho bảo vệ hệ sinh thái; tổ chức bộ máy quản lý và thực thi kiểm tra, giám sát.
Chương 3: Vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng và nhận diện 3 mâu thuẫn cơ bản đang cản trở việc phát huy vai trò của Nhà nước tại Việt Nam:
- Tiết 3.1 - Mâu thuẫn về mặt thể chế, chính sách: Sự bất cập giữa yêu cầu khách quan phải có một hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật đồng bộ, chặt chẽ để gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng thực tế hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu, chồng chéo, chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế thị trường.
- Tiết 3.2 - Mâu thuẫn về khâu tổ chức thực hiện và giám sát: Sự cách biệt giữa yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi, kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm môi trường, với hiệu quả thực tế còn nhiều hạn chế, bất cập, nguồn nhân lực quản lý môi trường tại địa phương vừa thiếu vừa yếu, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe.
- Tiết 3.3 - Mâu thuẫn về cơ chế phối hợp xã hội: Đòi hỏi cấp thiết phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong bảo vệ môi trường, nhưng thực trạng liên kết và huy động sức mạnh đồng thuận toàn xã hội còn lỏng lẻo, phân tán.
Chương 4: Một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng với các vấn đề và mâu thuẫn đã chỉ ra:
- Tiết 4.1 - Hoàn thiện hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật: Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống luật pháp (đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường), lồng ghép bắt buộc các tiêu chí bảo vệ môi trường sinh thái vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể và ngành; hoàn thiện chính sách thuế, phí tài nguyên, môi trường.
- Tiết 4.2 - Nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước: Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý tài nguyên và môi trường từ trung ương đến địa phương; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên trách; tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác môi trường; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, kiên quyết xử lý dứt điểm các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nghiêm trọng.
- Tiết 4.3 - Tạo sự đồng thuận và huy động lực lượng toàn xã hội: Đẩy mạnh giáo dục đạo đức sinh thái, tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường trong nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; phát huy vai trò phản biện, giám sát của các đoàn thể xã hội; chuyển đổi mô hình kinh tế sang phát triển xanh, ứng dụng khoa học công nghệ sạch, năng lượng tái tạo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
Căn cứ vào phần công bố của tác giả, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:
- Về mặt lý luận: Luận giải và hệ thống hóa các nội dung cơ bản về vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái dưới góc độ triết học mác-xít; làm rõ bản chất mối quan hệ biện chứng giữa phát triển sản xuất vật chất và bảo tồn giới tự nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Về mặt thực tiễn: Phân tích sâu sắc 3 mâu thuẫn cơ bản đặt ra trong quá trình nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với việc kết hợp kinh tế - môi trường ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1996 đến 2014.
- Về mặt chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp Đảng và Nhà nước hoạch định chủ trương, đường lối, hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Hệ thống giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nhóm giải pháp 1: Nâng cao chất lượng và tính đồng bộ trong xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, quy hoạch và pháp luật của Nhà nước.
- Nhóm giải pháp 2: Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành, thanh tra và xử lý vi phạm của bộ máy hành chính nhà nước.
- Nhóm giải pháp 3: Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, phát huy vai trò giám sát xã hội và giáo dục đạo đức sinh thái nhằm tạo sự đồng thuận của toàn thể cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu:
- Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ triết học (CNDVBC & CNDVLS), tập trung vào phân tích quy luật, mâu thuẫn xã hội và chức năng kiến trúc thượng tầng của Nhà nước, do đó không đi sâu vào việc xây dựng các mô hình định lượng kinh tế, hạch toán tài nguyên hay tính toán chi tiết tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường.
- Phạm vi dữ liệu thực tiễn được giới hạn trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2014, gắn với bối cảnh triển khai các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ban hành trước năm 2014.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về môi trường sau khi Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi được thực thi.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp công - tư và giải pháp tài chính xanh trong điều kiện Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Triết học, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị, Quản lý công và Xã hội học; hữu ích trong việc tham khảo phương pháp tiếp cận triết học đối với các vấn đề liên ngành kinh tế - môi trường.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu lý luận: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú, tổng thuật tài liệu hệ thống và các luận điểm sắc bén về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên phục vụ giảng dạy các chuyên đề Triết học và Phát triển bền vững.
- Cán bộ hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Các phân tích về 3 mâu thuẫn thực tiễn ở Chương 3 và hệ thống giải pháp ở Chương 4 là luận cứ hữu ích cho cán bộ tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng chính quyền các địa phương trong việc xây dựng và thực thi chính sách quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận vấn đề vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường theo hướng chuyên ngành nào?
Luận án tiếp cận vấn đề dưới góc độ Triết học, cụ thể thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05), phân tích Nhà nước với tư cách là nhân tố chủ chốt trong kiến trúc thượng tầng thực hiện chức năng xã hội tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế và tự nhiên.
2. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 được luận án ghi nhận là bao nhiêu và có đặc điểm gì?
Theo các tài liệu được luận án tổng thuật, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 ước tính đạt khoảng 7,2%/năm. Mặc dù giúp Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định và khai thác tài nguyên thiên nhiên thô.
3. Chương 3 của luận án đã chỉ ra những mâu thuẫn cốt lõi nào trong thực tiễn tại Việt Nam?
Chương 3 chỉ ra 3 mâu thuẫn cơ bản:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu đồng bộ về chính sách, chiến lược, pháp luật với tình trạng thực tế còn thiếu và chưa đồng bộ.
- Mâu thuẫn giữa đòi hỏi nâng cao hiệu quả thực thi, kiểm tra, giám sát với hiệu quả thực tế còn bất cập, nhiều hạn chế.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với các tổ chức, lực lượng xã hội với tình trạng phối hợp còn lỏng lẻo.
4. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp chủ yếu và tập trung vào những khía cạnh nào?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp chính tại Chương 4:
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật.
- Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước.
- Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Khương là một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về vai trò của Nhà nước trong việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái tại Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996 - 2014). Tác giả đã làm rõ bản chất mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn tự nhiên, phân tích sâu sắc các mâu thuẫn thực tiễn về thể chế, năng lực quản lý và cơ chế phối hợp xã hội. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính toàn diện và khả thi, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước Việt Nam.