CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Một số quan niệm và khái niệm về biển 1. Biển và đại dương Trái đất là một hành tinh nước, vì biển và các đại dương chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt của nó. Biển và đại dương đã được các nhà khoa học công nhận là cội nguồn của sự sống trên Trái đất, bởi lẽ biển và đại dương có nhiều chức năng quan trọng liên quan tới sự sống trên Trái đất.
Như đã biết, biển và đại dương chứa đựng nhiều hệ thống tự nhiên ở những cấp độ và qui mô khác nhau. Vì vậy, hiểu biết chính xác khái niệm về chúng giúp các nhà nghiên cứu và quản lý biết đúng đối tượng nghiên cứu và quản lý của mình ngay từ khi bắt đầu công việc. Theo sự tưởng tượng của người Babylon và người Ai Cập cổ thì tên gọi “đại dương” bắt nguồn từ tên riêng của con sông thần thoại Okêan. Con sông này bao quanh các vùng đất nổi mà hình dạng như một cái dĩa bằng phẳng.
Tuy nhiên, với sự phát triển của ngành hàng hải dần dần cho thấy rằng, rõ ràng “đại dương” không phải là một con sông bao quanh các lục địa mà đó chính là biển. Ngày nay, đã có sự phân biệt và cách hiểu rõ ràng về biển và đại dương. Để hiểu rõ hơn vấn đề trước hết ta cần biết về khái niệm thủy vực. Thủy vực (water - body) là một vùng trũng bất kỳ trên bề mặt Trái đất có chứa nước thường xuyên bất kể nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, với các hình thái và qui mô khác nhau.
Đại dương thế giới (word ocean) là toàn bộ các thủy vực có chứa nước mặn của Trái đất và không phân biệt ranh giới. Như vậy, trên hành tinh chúng ta chỉ tồn tại một đại dương thế giới. Đại dương (ocean) là những thủy vực nước mặn có qui mô lớn trong đại dương thế giới. Nó cũng là những bộ phận quan trọng của đại dương thế giới và được phân định tương đối bởi ranh giới “nhân tạo”.
Thông thường, ranh giới về phía lục địa của đại dương được phân định với các vùng biển phía trong bởi các hệ thống đảo, tương ứng với các đới phá hủy cấu trúc địa chất của rìa lục địa ở phía dưới. Trước kia, dựa vào truyền thuyết người ta đã chia ra thành 7 đại dương là: Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Đại Tây Dương, Nam Đại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương, 15 Nam Thái Bình Dương và Đại Dương Nam Cực. Đến năm 1845, tên của 3 đại dương: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mới được thừa nhận chính thức. Đến nay, người ta chia ra và thừa nhận 4 đại dương chính: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương.
Do nằm sát lục địa và chịu ảnh hưởng của các quá trình lục địa (chủ yếu thông qua hệ thống sông ngòi), nước biển thường có thành phần và tính chất khác với nước đại dương. Cho nên trong các văn liệu, người ta còn gọi chúng là các biển rìa (marginal sea). Theo thuật ngữ Địa lí (Nguyễn Dược - Nguyễn Trung Hải, NXBGD - 2001) đã đưa ra khái niệm biển như sau: “Biển là bộ phận của đại dương, nằm gần hoặc xa đất liền nhưng có những đặc điểm riêng khác với vùng nước của đại dương bao quanh (như nhiệt độ, độ mặn, chế độ thủy văn, các vật liệu trầm tích đáy, các sinh vật…)”. Ngày nay, theo cách hiểu thông thường có thể thấy biển là một bộ phận biệt lập của đại dương, nó được phân biệt bởi những đặc điểm tự nhiên, chủ yếu là bởi những đặc điểm thủy văn và khí hậu.
Biển có thể nằm giữa hai lục địa, ăn sâu vào lục địa hoặc tách ra khỏi đại dương bởi các bán đảo, đảo và địa hình ngầm. Điểm khác nhau cơ bản giữa biển và đại dương là kích thước, biển thì nhỏ hơn đại dương. Biển thường là phần mở rộng của đại dương và là phần nối của đại dương và đất liền, khi biển rời xa hẳn khỏi đất liền thì lúc đó người ta gọi là đại dương. Tùy thuộc vào đặc tính của sự tiếp xúc giữa lục địa và đại dương, các biển được phân chia thành ba nhóm: - Các biển trong lục địa: các biển này ăn sâu vào trong lục địa, nằm ở thềm lục địa và có độ sâu không lớn.
- Các biển rìa lục địa: các biển này được tách ra khỏi đại dương bởi các quần đảo hay bán đảo, được nối với các đại dương trên những tuyến rộng. Các biển này được bố trí hoặc là ở thềm lục địa với độ sâu nhỏ, hoặc là ở sườn lục địa với sự tăng nhanh đến độ sâu của đại dương. - Các biển giữa các lục địa: các biển này được bố trí giữa hai lục địa. Cần chú ý rằng các biển giữa các lục địa nằm ở các vòng đai đứt gãy của vỏ Trái đất, cho nên những nét đặc 16 trưng của các biển này là sự chia cắt mạnh mẽ của đường bờ, sự chênh lệch rõ rệt của độ sâu, hoạt động địa chấn và hoạt động núi lửa mạnh mẽ.
Như vậy, dù có nhiều cách hiểu dựa trên quan điểm tiếp cận về biển và đại dương khác nhau nhưng nó vẫn là khối nước khổng lồ bao quanh các lục địa. Ngày nay, biển và đại dương cung cấp cho con người một kho tàng khổng lồ về thực phẩm, khí đốt, hóa chất, vật liệu, điều hòa môi trường, phát triển du lịch và giải trí là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội và tạo dựng nền văn minh cho loài người. Phạm vị không gian biển Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York, với hơn 160 nước tham gia. Cuối cùng một Công ước về luật biển hay Hiệp ước về luật biển được hình thành, sau nhiều lần chỉnh sửa cho đến năm 1982.
Kết quả là một công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994. Nội dung Công ước bao gồm một loạt điều khoản. Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp. Công ước đặt ra giới hạn cho các khu vực, tính từ đường cơ sở (baseline) được định nghĩa rõ ràng, bao gồm các bộ phận: - Nội thủy - Lãnh hải - Vùng tiếp giáp lãnh hải - Vùng đặc quyền kinh tế - Thềm lục địa Ngoài ra, còn có vùng biển quốc tế (vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển).
Ở vùng biển quốc tế, các quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, đặt dây cáp và ống ngầm, đánh bắt cá, nghiên cứu khoa học. nhưng phải tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác cũng như tuân thủ các quy định có liên quan đến công ước Luật biển năm 1982. Quan niệm về vùng ven biển Vùng ven biển (hay còn gọi là dải ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh, 17 về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa… Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về vùng ven biển vẫn còn chưa được thống nhất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cả trong khoa học tự nhiên và trong khoa học kinh tế. Theo các tài liệu nước ngoài, có các thuật ngữ sau: - Nga: Vùng duyên hải - Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte).
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone) - Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải. Như vậy, quan niệm việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới vùng ven biển của mỗi nước cũng khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về vùng ven biển được chọn lọc từ nhiều quốc gia và từng lĩnh vực khoa học cụ thể. Trong “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lí tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức)” – NXB Tiến bộ, Maxcơva 1980, vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại.
Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm vùng duyên hải – là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven bờ biển hoặc là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập”. Định nghĩa này phù hợp với nghiên cứu môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhưng hạn chế khi nghiên cứu về địa lí, nhân khẩu học và kinh tế học, không nêu được những ảnh hưởng của biển đến các hoạt động kinh tế biển. Tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển Việt Nam” tháng 12 năm 1992, Giáo sư Joe Baker của viện khoa học biển Autralia đã đưa ra định nghĩa: “Vùng ven biển là vùng đất – biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các con sông, suối… chảy vào biển, tới giới hạn ảnh hưởng của lục địa”. Định nghĩa này đề cập đến tương tác biển và lục địa nhưng vẫn còn hạn chế khi nghiên cứu về các tác động kinh tế - xã hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển.
Trong nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN cho rằng: “Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn”. Định nghĩa này tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven biển. Song, đối với nghiên cứu vấn đề về dân cư, kinh tế - xã 18 hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khóa khăn trong việc thu thập và tính toán các số liệu thống kê. Trong báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS.