phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục thì nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Đặc điểm cảnh quan các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam và vấn đề phát triển nông - lâm nghiệp Chƣơng 3. Đánh giá cảnh quan và đề xuất định hƣớng phát triển nông - lâm nghiệp ở các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam Toàn bộ luận án đƣợc trình bày trong 147 trang với 29 bảng số liệu, 27 hình, 23 phụ lục (bản đồ, bảng biểu và ảnh khảo sát thực địa).
5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Hướng tiếp cận cơ sở địa lý cho phát triển nông - lâm nghiệp 1. Các hướng nghiên cứu về định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ cho NLN Hiện nay, có 2 hƣớng tiếp cận nghiên cứu phổ biến về định hƣớng sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển NLN là nghiên cứu đất đai và nghiên cứu CQ.
Hướng nghiên cứu đất đai Đây là hƣớng tiếp cận nghiên cứu phổ biến của các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam. * Trên thế giới:Trƣớc năm 1975, nhiều nƣớc trên thế giới đã đánh giá đất đai theo hệ thống đánh giá riêng của nƣớc mình. Một số nƣớc thì đánh giá đất đai một cách chung chung và chỉ giới hạn đánh giá ở những vùng đất có khả năng thích hợp cho trồng trọt, lâm nghiệp và đồng cỏ. Một số nƣớc khác chỉ quan tâm đến đánh giá đất cho một hình thức sử dụng đất nào đó nhƣ thủy lợi.
Vì vậy, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm ở nhiều nƣớc, FAO (1976) đã đƣa ra quy trình đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi đất đai theo 5 hạng: Rất thích nghi (S1), thích nghi (S2), kém thích nghi (S3), không thích nghi hiện tại (N1) và không thích nghi lâu dài (vĩnh viễn) (N2) 128]. Sau đó, FAO đã công bố một số tài liệu hƣớng dẫn đánh giá đất đai cho những mục đích khác nhau nhƣ: cho nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (1983) [129], lâm nghiệp (1984) [130], nông nghiệp có tƣới (1985) [131],… Đến 1990, FAO đã đề nghị thực hiện đánh giá đất đai cho sự phát triển NLN theo quy trình 8 bƣớc: 1) Xác định mục tiêu đánh giá 2) Thu thập dữ liệu 3) Xác định loại hình sử dụng đất 4) Thành lập bản đồ đơn vị đất đai 5) Đánh giá thích nghi 6) Xác định các vấn đề về KTXH và MT 7) Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất 8) Quy hoạch sử dụng đất [132]. Các đơn vị đất đai đƣợc xác định chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu liên quan đến điều kiện sinh thái nhƣ loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất, lƣợng mƣa, thủy văn, điều kiện tƣới tiêu, nhiệt độ. Trên cơ sở phân cấp các chỉ tiêu, tiến hành chồng xếp các bản đồ thành phần để thành lập bản đồ đơn vị đất đai.
Đây chính là đơn vị cơ sở để đánh giá đất đai theo quy trình của FAO và mục đích đánh giá là các loại cây trồng hoặc nhóm cây trồng. 6 z Từ đó đến nay, quy trình đánh giá đất đai của FAO đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới vận dụng phục vụ quy hoạch định hƣớng sử dụng đất cho NLN và phạm vi nghiên cứu cũng ngày càng đƣợc mở rộng. Có những công trình đã tích hợp đƣợc phƣơng pháp và quy trình đánh giá đất đai của FAO với việc phân tích hệ thống sử dụng đất, hệ thống nông trại [139, 125]… Ofresco L. đã sử dụng các phƣơng pháp đánh giá đất đai và phân tích hệ thống nông trại để lựa chọn đƣợc loại hình sử dụng đất bền vững dựa vào sự kết hợp giữa mô hình hóa thực nghiệm với quy hoạch đa mục tiêu.
Kết quả là thành lập đƣợc các bản đồ đề xuất sử dụng đất bền vững dựa vào việc lƣợng hóa mức độ bền vững của các hệ thống sử dụng đất khác nhau nhƣ hệ thống sử dụng đất đai (Land use system), hệ thống nông trại (Farm system) và hệ thống vùng (Region system) [139]., đánh giá đất đai (Land evaluation) và phân tích hệ thống nông trại (Farming system analysis) là 2 nội dung chính phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất. Đánh giá đất đai cho quy hoạch sử dụng đất giúp thấy đƣợc tiềm năng của đất đai và mức độ chi tiết của công tác này tùy thuộc vào tỷ lệ bản đồ 138]. đã sử dụng công nghệ viễn thám và GIS để phân tích mối quan hệ giữa thu nhập từ nông nghiệp với hiện trạng sử dụng đất và mức độ thích nghi của đất đai để đƣa ra những định hƣớng sử dụng đất đai hợp lý nhằm tăng năng suất và bảo vệ môi trƣờng. Điều đó cho thấy, GIS là một công cụ cần thiết để phân tích các dữ liệu đa lớp (multi-layered database) có khả năng xử lý nhiều dữ liệu trong không gian để công tác quy hoạch đƣợc dễ dàng hơn 125].
* Ở Việt Nam: Công tác nghiên cứu và đánh giá đất đai chỉ đƣợc nghiên cứu chi tiết từ sau 1980 với những công trình của Tôn Thất Chiểu (1990) [20], Trần An Phong (1995) [60], Đào Châu Thu (1998) 84], Đào Khang (1999) 49], Hà Văn Hành (2004) [40], Lê Năm (2004) 58], Đỗ Đình Sâm (2005) [64]… Qua các công trình đó cho thấy, các tác giả lúc đầu chỉ đánh giá các đơn vị đất đai theo các chỉ tiêu đƣợc lựa chọn liên quan đến các điều kiện tự nhiên nhƣ đất, thủy văn và tƣới tiêu, khí hậu nông nghiệp, sau đó dần dần phân tích thêm về các điều kiện KTXH và MT cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất đai trong nông nghiệp nhƣ ở công trình nghiên cứu chuyên đề về đất phèn và mặn trong chƣơng trình Quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long 60]; nghiên cứu đánh giá đất đai dựa trên quan 7 z điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần An Phong [60]; Dần dần, việc đánh giá đất đai đƣợc mở rộng sang lĩnh vực lâm nghiệp nhƣ tiếp cận đánh giá đất đai ở vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế cho vùng thuộc lâm phận sản xuất; vùng thuộc lâm phận phòng hộ đầu nguồn và đặc dụng của Lê Năm [58] hoặc xây dựng các tiêu chí đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã phục vụ trồng rừng của Đỗ Đình Sâm có thể ứng dụng đƣợc trên phạm vi cả nƣớc [64]… Qua quá trình phân tích các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai cho phát triển NLN cho thấy: đa số các công trình trên thế giới và ở Việt Nam đều thực hiện đánh giá đất đai cho NLN theo một quy trình chung của FAO. Đơn vị cơ sở để đánh giá là đơn vị đất đai. Mục đích đánh giá là để phục vụ các loại hình sử dụng đất hoặc các kiểu sử dụng đất chính trong NLN. Hướng nghiên cứu cảnh quan Hƣớng nghiên cứu CQ cho phát triển NLN là một trong các hƣớng nghiên cứu CQ ứng dụng đƣợc các nhà khoa học địa lý quan tâm nghiên cứu.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề lý luận và phân tích, đánh giá CQ cho NLN ở trên thế giới và Việt Nam nhƣ sau: * Trên thế giới: Nền móng của CQ học đã đƣợc xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu, phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái đất của các nhà địa lý kinh điển Nga (Docutraiev V.) và các nhà địa lý Mỹ, Pháp… song sự phân chia bề mặt trái đất dẫn đến việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ vỏ địa lý chỉ đƣợc phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi đó CQ đƣợc xác định nhƣ một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” (Ixatrenko A. Xu hƣớng phát triển của khoa học CQ là theo chiều hƣớng sinh thái hóa CQ [5, 120, 133, 140, 142…]. (2000) với “Nguyên tắc và phƣơng pháp trong sinh thái cảnh quan” 133] đã cung cấp đầy đủ những cơ sở lý luận về nghiên cứu sinh thái CQ nhƣ nguyên tắc phân loại CQ; lý luận về thứ bậc và cấu trúc của CQ; nguồn gốc động lực CQ và các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu. Sự tƣơng đồng của hai khoa học này ngày càng đƣợc thể hiện rõ, đặc biệt là trong 3 thập niên gần đây khi sinh thái CQ trở thành một khoa học mới, tích hợp đƣợc những ƣu thế của địa lý học và sinh thái học.
đã kh ng định việc nghiên cứu CQ “lan tràn từ địa lý học sang các khoa học khác. CQ là tổng hợp sự biến đổi giữa MT tự nhiên và văn hóa của vùng. Vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mà quan trọng là phân loại CQ theo hình thái và phân bố. Xu hƣớng phát triển của CQ học là theo xu hƣớng sinh thái hóa CQ và trở thành một khoa học liên ngành nên ngày càng có nhiều sự quan tâm nghiên cứu CQ nhƣ một bộ phận của MT và nghiên cứu CQ ứng dụng trong thực tiễn, trong đó có quy hoạch cho NLN 120].
- Đƣợc viết bởi nhà khoa học lỗi lạc trong nghiên cứu sinh thái CQ, công trình nghiên cứu “Sinh thái cảnh quan trong quản lý các hệ sinh thái nông nghiệp” [142] của Ryszkowski L. đã cung cấp những lý luận về đánh giá các chức năng sinh thái cơ bản của CQ nông nghiệp một cách có hệ thống và hƣớng dẫn quản lý CQ nông nghiệp ở vùng nông thôn. Công trình nghiên cứu này cho thấy MT sống bán tự nhiên ở CQ nông nghiệp là nơi sinh sống của nhiều cây trồng, vật nuôi và sẽ làm tăng mức độ đa dạng sinh học ở các vùng nông nghiệp. đã đề cập đến CQ nông thôn với sự phân chia diện tích đất có thể canh tác đƣợc làm 3 phần thì 90 dành cho sản xuất nông nghiệp và trồng rừng khai thác, 9 cho nghỉ ngơi và xây dựng, còn 1 cho các khu bảo tồn thiên nhiên.
Việc phát triển nông nghiệp cần theo hƣớng tăng năng suất hơn là tăng diện tích gieo trồng, đồng thời cần chú ý tới việc xây dựng hệ thống tƣới tiêu, tạo ruộng bậc thang, trồng rừng…[5].