CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CÁC NGHI LL Tình hình nghiêncứu trên thé giới. Tình hình lũ lạt trên thể giới ‘Tron giai đoạn 15 năm trở lại đây, những thảm họa thiên tai trên thé giới đã làm hơn sáu ngàn người thiệt mạng, hơn hai tý người chịu ảnh hưởng. thất về nh tẾ do thiên tai có nguồn gốc từ lượng thủy văn gây ra ước tính khoảng gin 5 tỷ đồ la Mỹ. Theo thống kế của Liên hiệp quốc, có tới 90% thiên tai liên quan đến thời tết, khí hậu và nước.
Trong đó lũ lụt à một loại thiên ti đặc biệt nguy hiểm, gây t t hại nghiêm trọng về người và của. Thiệt hại do lũ lụt gây ra ngày một tăng trong các năm gin đây. Đơn cử là một số trận lũ lụt lớn trên thé giới trong các năm gin đây như: “Tháng 8/2013 tại Trung Quốc, tổng cộng 105 người đã thiệt mạng và 115 người khác mắt tích sau khi lũ lụt hoành hành miền đông bắc và một cơn bão cin đạt các khu vực miễn nam, Tại Philippines, mưa lớn đã gây ngập lụt nghiêm trọng tại vùng thủ đô Manila và 4 khu vực khác trên đảo Luzon, khiển gần 150.000 người bị ảnh hướng. Trong khi đó, tại Nga, hơn 20.000 người đã buộc pha đi sơ tn tại những khu vực bị ảnh hưởng nặng né bởi lũ lụt ở vùng Viễn Đông, nơi sông Amur bị tần bờ sau các trận mưa như trút nước.
Tại Pakistan, mưa lớn và lò lụt đã cướp đi sinh mạng của ít nhất hơn 110 người. “Hình 1-1 Ngập lự tại một ngôi lang của Nga thẳng 82013 “Tháng 9/20154ại Nhật Bán, mưa lớn kéo dai khiến một con sông ở miỄn trung vỡ bờ, gây lụt diện rộng, phá hủy nhiều nhà cửa, phương tiện và hàng chục nghìn người phải sơ tán. Nhiều khu vue ở tinh miễn trang Tochigi có lượng mưa sản 60 em kể từ tối 79.000 người ở tỉnh Tochigi và 8.200 người ở tỉnh Iaraki đã được lệnh sơ tin. Tại tinh Ibaraki, mua lớn lâm nước sông Kinugawa ‘dang cao tràn bờ ở một số đoạn như Joso, CI ikusei, làm hang trăm ngôi nhà bị ngập, một số đoạn dé trên hai sông ở Koga và Ibaraki bị vỡ.
Theo ước tính đã có 4 ngườ chất, 15 người mắt tích và 15.000 nhà dân bị phá hủy do lũ quét. “Tháng 7/2015 tại Myanmar, sau những twin mưa liền tiếp gây lũ quét đã làm. hơn 20 người chết và nhiều người mắt tích. 4 khu vực phía tây Myanmar đã phải tuyên bổ vùng thêm họa do lũ ạt nặng trong những ngày mưa gây ra.
Các bang Rakhine, Shan và vùng Mandalay bị thiệt hại nặng né nhất với hom 100.000 ha cây trồng, khoảng 15.000 ngôi nhà bị nước Hi pha hủy. Hệ thẳng giao thông và thông tin liên lạc bị tê liệt hoàn toàn.3 Trận mưa lũ tại Myanmar tháng 7/2015 Nghién cứu trên thể giới La lụt đi qua để lại hậu quả to lớn vé người và của ảnh hưởng nặng n cho g của nhân dân. Dé đánh giádịnh lượng những thiệt hại kinh tổ gây ra do lũ hay cũng như bắt kỳ một loại thiên tai nào đều là một quá trình rat phức tạp, nó bị điều khi bởi nhiều yếu tổ bao gồm cả những đặc trưng của lũ như độ sâu và thời sian ngập, vận tốc đồng chảy, phân bé không gian lũ. và những hoạt động kinh tế của người dan sống trong vùng ngập lũ.
Trong những thập ky gần đây, với sự phát triển của công nghệ, trên thé giới đã có rắt nhiều mô hình mô phỏng dong chảy lũ từ 445 đánh giá được thiệt hại do lũ đã được phát triển kết hợp với sự hỗ ty của những công nghệ mới như GIS vàviễn thám. Ví dy như mô hình FLOODIS được thế bởi Xiuwan (1998), mô hình UFDSM của Heping và cộng sự (1998), mô hình IISDHM của Duta và cộng sự (198) (Cu thể tên thể giới, Knebla, M.R và nnk (2005) đã xây dựng mô hình dự báo, 10 cho lưu vực sông San Antonio (di khoảng 10.000 km?) ở bang Texas, Hoa Kỳ thực chất là sự kết hop giữa mô hình thủy văn, thủy lực HEC-HMS, HEC-RAS và mô hình dự báo mưa bằng radar NEXRAD với sự trợ giúp của công cụ GIS có ap to Map” sử dụng phần mở rộng ArcHydro trong ArcGIS cho khu vực nghiên cứu. “Từ năm 2007, Viện nghiên cứu công chính Nhật Bản PWRI, giới thiệu hệ thống phân tích 1d tổng hợp (The Integrated Flood Analysis System - IFAS) là chương tinh tính toán mô phòng dong chay. TiỀn hành phân tích đồng chảy mô hình thông s6 phân bổ.
Số liệu mưa vệ tinh và mực thực đo bŠ mặt được nhập vào như số liệu ô dạng lưới (grid), Đường phân thủy được tạo ra từ số liệu mô hình số độ cao (DEM), Mô hình tính toán được tạo thành bằng thiết lập các thông số trên cơ xử số liệu sử dụng đắt hoặc lớp phủ, điều kiện địa chất và chất đắt. Các kết quả tính toán có thé được xuất dưới dạng bảng hay đỏ hoa và trên nên bản đồ Google. Daniel Jilles và Matthew Moore (2010) đã sử dụng mô hình thủy lực MIKE 11 và HEC-RAS để mô phỏng lũ tại Hà Lan, Bi và Anh Quốc. Nghiên cứu đã ứng dụng các mô hình thủy lực để quản ý dồng chấy, duy ti mạng lưới cảnh báo và tiến bành thành lập hệ thống dự báo lũ cắp quốc gia.
Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận cho thấy hệ thống dự báo lũ có thé sử dụng các mô hình thủy lực đơn giản, các mô. hình thủy lục 1 chiều (ID ~ 1 Demension) là mô bình được khai thác chi tết nhất trong công tác dự báo lũ theo thời gian thật Xăm 2008, P. Vanderkimpen đã tiên hành nghiên cứu mô phòng lũ bằng ứng ‘dung mô hình MIKE FLOOD để kịp thời cho công te di tin dan ư ở khu vực đồng từ 1g von biển của Bỉ. Bằng mô hình thủy lực MIKE FLOOD, các chuyên gia đã tìm .được khả năng ảnh hưởng của lũ, diện ngập có thé xảy ra qua đó ước tinh thiệt hi nhằm đưa ra công tá đi tin một cách kịp thời nhất Nghiên cứu lĩ gây ra do vỡ đập ứng dung mô hình HEC-RAS và công cụ HEC ~ GeoRAS (Cameron T.Ackerman và Gary W.Brunner, 2011) đã cho thay khả năng kết hợp tuyệt vời của mô hình HEC - RAS và công cụ HEC ~ GeoRAS để xây dựng mô bình vỡ đập với các ảnh hưởng từ lũ gây ra bởi nó.
HEC - GeoRAS sẽ truy xuất các dữ liệu địa lý từ hệ thống bản đỗ dia hình số và rồi chuyển các dữ liệu đồ vào mô hình HEC ~ RAS. HEC — RAS sẽ mô phỏng đồng chảy không én định từ quá trình vỡ đập, từ đó kết hợp với công nghệ GIS đẻ thành lập bản đỏ mô phỏng. ngập lụt để có các công cụ công tác chuẩn bi, phòng tránh Một số công trình khác ding chú ý có thể kể đến như: Ứng dụng mô hình HEC - RAS nghĩ cửu bảo về đồng chảy sông Salinas (Laure Waner Herson và Mitchell Katel, 2013). Phát rin mô hình dự báo lũ bing cách tự động tíh hợp thông tin dồng chảy là từ mô hình HEC - RAS (William James và 2012) 1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tình hình lũ lụt tại Việt Nam Theo đánh giá của Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ì gt hại do thiên tai ở Việt Nam thuộc loại lớn trên thể giới Minh chứng là trong 5 năm gin đây, mỗi năm thiên ti làm chết khoảng 500 người, dy thiệ hại 14.500 tÿ đồng, tương đương 1.2% GDP cả nước; thành quả kinh tế trong 5-10 năm có thể bị biển mắt chỉ trong một trận lũ.
Những thiệt hại do vỡ để, vỡ bờ bao làm ngập chìm nhiễu điện tích nuôi trồng thủy sản, lúa và hoa màu, phá. hủy các công trình hạ ting kỹ thuật và gây ảnh hưởng nặng né đến môi trường. Tại miền Nam, cơn bão Linda xảy ra vào tháng 11/1997 đã đỗ bộ vào đất mũi Cả Mau (nơi rất ít khi có bão xây ra), gây thiệt hại năng nỄ về người và cơ sở vật chất đối với tỉnh Cà Mau. Tại Kiên Giang, lũ năm 2000 làm ngập trần 6.512 ha nuôi trồng thủy sản, trong đỏ 6.100 ha diện tích nuôi tom của tỉnh, thiệt hại khoảng TT đồng Đợt lũ lụt miễn Trung Việt Nam thing 11 năm 1999 (hay côn được biết đến với tên gọi là Dại hồng thấy 1999) là một đợt lũ lụt lớn xây mì ở các tinh miễn 10 ‘Trung Việt Nam vào đầu tháng 11 năm 1999.
Do tác động của không khí lạnh mạnh kết hợp với dai áp thấp xích đạo, các nhiễu động trên cao và cuối cùng là áp thấp. t ác tinh miễn Trung Việt Nam đã phải img chịu những trận mưa rt lớn từ ngày 1 đến 6 tháng 11 năm 1999, gây ra lũ lụt nghiêm trọng, nhắn chìm nhiều huyền. thi xã làm thiệt hại ti sản lên đến gin 3.800 tỷ đồng và số người chết là 595. Tinh chịu thiệt hại nặng nhất là Thừa Thiên Huế.
‘Thiét hại do cơn bảo số 2 vào cuối tháng 7/2005, đỗ bộ vào 4 tỉnh Quang Ninh, Hải Phòng, Thái Binh, Nam Định kèm theo mưa lớn đã làm 15.000 ha bị ngập trắng, các cổng tưới iêu bị sat lở, nhiễu bè nuôi bị chim và hư hỏng. Cũng trong năm 2005, cơn bão số 7 (15-17/9/2005) gây thiệt hại cho nuôi trồng thủy sản là 20,706,2 ha, trong 46 Nam Định thiệt hại 6.200 ha, Ninh Bình 2.780 ha, Thanh Hoos 3.778 hà Nam 2007, theo Tổng cục Thống ke, tng hệt hại do thiên ta, chi yếu là do sot lt, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 nh, thành phổ tiền cả nước ức tính lê tối trên 11,600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP. Thiên tai đã làm 435 người chất mắt ch; làm ngập và hư hại H13 800 ha lúa: phá huỷ trên 1.300 công trình đ. cổng, làm sat lở cuốn trôi hơn 1.500 km dé và kênh mương; làm hơn 7.800 ngôi nhà và phòng họp bị sip d.
Do ảnh hưởng nặng nf của thiên ti nên tình trạng thiếu đói vin xây ra ở những vùng gặp nạn, Năm 2007, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân cả nước đã đồng góp để hỗ trợ 723.900 lượt hộ với 3.500 lượt nhân khẩu trong diện thiểu đối, gặp nạn Cơn bão số 9 Ketsana năm 2009 đổ bộ vào miễn Trung gây lũ lụt nghiệm trọng. Bao số 9 gây thiệt hại nặng né về tài sản với gin 20.000 ngôi nhà bị sập, trồi hoàn toàn, trên 165,000 nhà bị tốc mái, hư hỏng, khoảng 120.000 nhà bị ngập, 50,000 ha lúa và hoa màu mắt trắng.000 trạm y t,t sở UBND xã, trường học và các công trình công cộng bị hư hỏng.