MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người, gắn liền với nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Ngành này luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế (PTKT) và nâng cao đời sống cư dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Hiện nay, chưa có ngành nào dù hiện đại đến đâu, có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, nông nghiệp còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến, tạo nguồn hàng hóa xuất khẩu thu ngoại tệ, tăng thu nhập, giữ vai trò quan trọng trong việc sử dụng và bảo vệ đất đai cũng như cải thiện môi trường, góp phần PTKT bền vững. Ở Việt Nam, cha ông ta đã dạy “phi nông bất ổn”. Với 65,0% dân số sống ở nông thôn, 40,2% lao động (LĐ) nông nghiệp và đóng góp 17,0% GDP năm 2017 (không tính thuế sản phẩm) (Tổng cục Thống kê, 2006, 2011, 2018), năng suất khai thác từ ruộng đất còn thấp nên vấn đề nông nghiệp ở nước ta ngày càng trở nên quan trọng. Nền kinh tế nước ta sau hơn 30 năm đổi mới, tuy đạt được những thành tựu hết sức to lớn nhưng nhìn tổng thể vẫn chưa thoát khỏi tính chất của một nền kinh tế nông nghiệp.
Hơn nữa, sự phát triển của nông nghiệp trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên (TNTN) (nhất là tài nguyên đất, nước) ngày càng thu hẹp, hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra hết sức phức tạp, đe dọa sự sống của hàng triệu người, nhất là đối với người nghèo. Do vậy, phát triển nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh (TTX) là mô hình thiết yếu đáp ứng được các mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững. Sự phát triển nông nghiệp bền vững phải đảm bảo: bền vững về sinh thái; về kinh tế và xã hội đối với nông dân và cộng đồng. Nông nghiệp được coi là nền tảng để ổn định phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) và phát triển theo hướng TTX, bắt đầu được chú ý trong hệ thống chính sách nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) tiếp tục khẳng định: đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông nghiệp - nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong những năm qua, đường lối phát triển KT – XH của Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, đã có những chủ trương, chính sách và mô hình đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này. Là tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), kẹp giữa 2 nhánh sông Tiền, sông Hậu và dòng Cổ Chiên trĩu nặng phù sa, Vĩnh Long có nguồn tài nguyên thiên nhiên ưu đãi để hình thành nền nông nghiệp toàn diện, đa canh, thâm Luan van 2 canh có hiệu quả cao. Trong thời gian vừa qua, Vĩnh Long đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp.
Đóng góp của khu vực này trong GRDP toàn tỉnh tuy có giảm dần nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao (43,1% năm 2005, 37,2% năm 2010 và 33,06% năm 2017). Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp trung bình năm (theo nghĩa rộng) cho toàn giai đoạn 2005 – 2017 là 4,05%, trong đó giai đoạn 2005 – 2010 là 5,3%/năm và giai đoạn 2011 – 2017 là 2,8%/năm (Cục Thống kê Vĩnh Long, 2011, 2016, 2018). Hoạt động sản xuất nông nghiệp đang có sự chuyển dịch đúng hướng, hình thành nhiều mô hình sản xuất mới có hiệu quả kinh tế cao, các vùng chuyên canh tập trung, cánh đồng lớn về lúa, khoai lang, cam… năng suất và chất lượng cao theo chuẩn GAP như bưởi Năm Roi (Bình Minh), cam sành (Tam Bình), chôm chôm (Tích Thiện), khoai lang (Bình Tân)… Tuy nhiên, với đặc thù là tỉnh có quỹ đất ít (bình quân đất nông nghiệp thấp, chỉ có 16.570m2/hộ (tương đương 1.400m2/người), dân cư chủ yếu hoạt động nông nghiệp (46,0% LĐlàm việc năm 2017) và sống ở nông thôn (83,0%) (Cục Thống kê Vĩnh Long, 2011, 2016, 2018). Cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất kĩ thuật (CSVCKT) phục vụ nông nghiệp chưa đồng bộ và chưa đảm bảo chất lượng.
Đời sống của người nông dân còn thấp và tăng chậm; sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của lũ lụt, triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn…; diễn biến phức tạp của BĐKH và nước biển dâng… Để khắc phục tình trạng này và đưa tỉnh Vĩnh Long phát triển vững chắc nền nông nghiệp hàng hóa theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải có những mô hình phù hợp làm nền tảng cho phát triển bền vững và thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Xuất phát từ yêu cầu khoa học và thực tiễn, tác giả quyết định lựa chọn hướng nghiên cứu cho luận án của mình là “Phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long theo hướng tăng trưởng xanh”. Lịch sử nghiên cứu đề tài Đề tài luận án liên quan đến hai vấn đề cần phải tổng quan. Đó là phát triển nông nghiệp và TTX, trong đó vấn đề thứ nhất là quan trọng hơn cả và được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung luận án.
Phát triển nông nghiệp 2. Trên thế giới Là ngành sản xuất quan trọng và xuất hiện sớm nên nông nghiệp là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Do có nhiều công trình nghiên cứu nên tác giả tổng quan theo một số hướng nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến đề tài. - Hướng nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp Có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này, tiêu biểu là: Luan van 3 Theo Kuznets S (1961), nông nghiệp có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế (TTKT).
Ông giả định rằng nền kinh tế gồm hai khu vực là khu vực nông nghiệp và khu vực phi nông nghiệp. Trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, nông nghiệp giữ vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ở các giai đoạn sau cho đến khi đã hoàn thành quá trình CNH, vai trò của nó ngày càng giảm dần (Lê Mỹ Dung, 2018). Todaro (1990) đưa ra “Mô hình ba giai đoạn phát triển nông nghiệp” từ thấp đến cao.
Giai đoạn 1 hình thành trong điều kiện tự cấp, tự túc. Đất và LĐ là hai yếu tố chủ yếu. Sản lượng nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và tăng lên là do mở rộng diện tích. Giai đoạn 2 nông nghiệp phát triển theo hướng đa dạng hóa sản xuất; sử dụng công nghệ sinh học làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và sản xuất hướng tới thị trường.
Giai đoạn 3 là giai đoạn phát triển cao nhất. Vốn và công nghệ trở thành yếu tố quyết định, sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường và lợi nhuận là mục tiêu của người sản xuất. Rõ ràng, ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau về vị thế của nông nghiệp (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Theo Johnston B.W (1961), đối với việc PTKT nông nghiệp thể hiện 5 vai trò cụ thể. Đó là Gia tăng nguồn cung cấp lương thực thực phẩm; Chuyển LĐ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp; Mở rộng thị trường đối với sản xuất công nghiệp; Tăng nguồn thu nội địa và mở rộng xuất khẩu thu ngoại tệ (Lê Mỹ Dung, 2018).
- Hướng nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Người đi đầu trong lĩnh vực này là Von Thunen với lí thuyết về sử dụng đất và phân bố các hoạt động nông nghiệp (1826). Qua nghiên cứu, ông thấy rằng khoảng cách từ nơi sản xuất nông nghiệp đến nơi tiêu thụ có tác động đến địa tô, chi phí vận chuyển hàng hóa và từ đó quyết định đến giá thành các mặt hàng nông sản. Trên cơ sở này, ông đưa ra mô hình các vành đai đồng tâm hình thành xung quanh vị trí trung tâm của một thành phố. Mỗi vành đai có một kiểu sử dụng đất và tương ứng là các nông sản khác nhau.
Về lí thuyết, các nông sản có lợi nhuận cao, nhưng nhanh hỏng hoặc khó vận chuyển sẽ được bố trí ở gần trung tâm thành phố, còn các sản phẩm có lợi nhuận thấp, hoặc dễ chuyên chở hơn thì sẽ nằm xa hơn (Masaji Miyasaka, 1995) Có nhiều đóng góp cho hướng nghiên cứu này phải kể đến các nhà địa lí học thuộc trường phái Địa lí Xô Viết như Kriustkov. - Hướng nghiên cứu về địa lí nông nghiệp Dưới góc độ Địa lí học, nông nghiệp là hướng nghiên cứu truyền thống của các nhà địa lí kinh tế nói chung và địa lí nông nghiệp nói riêng.N (1974) trong công trình “Địa lí nông nghiệp” tập trung vào trình bày các phương pháp nghiên cứu địa lí nông nghiệp. Trong khi đó, Grigg D.W (1985) phân tích mô hình sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện nhất định về các nhân tố KT - XH và những thay đổi về địa lí nông nghiệp theo thời gian thông qua các nghiên cứu tại Hoa Kỳ và các nước châu Âu. Một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra với nền nông nghiệp hiện nay như quá trình toàn cầu hóa, hội nhập, tái cơ cấu, phát triển bền vững (PTBV)… thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học như Robinson G.A (2012)… (Lê Mỹ Dung, 2018) - Ngoài các hướng nghiên cứu đã nêu ở trên còn có một vài hướng nghiên cứu khác ít liên quan đến đề tài luận án như các hướng nghiên cứu về nông nghiệp đô thị, về kĩ thuật sản xuất, về tổ chức quản lí, về kinh tế nông nghiệp… 2.
Ở Việt Nam Ở nước ta, nông nghiệp cũng được nghiên cứu bởi nhiều ngành khoa học. Dưới đây tổng quan một vài hướng gắn với đề tài luận án. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (TCLTNN) là hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ý của nhiều nhà địa lí. Theo Lê Thông (Lê Thông, 1986).
TCLTNN là các mối liên hệ không gian giữa các bộ phận tự nhiên, dân cư, kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong quá trình sản xuất. Đề cập đến xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới, ông nhấn mạnh đến quá trình nhất thể hóa và coi đây là quy luật khách quan của sự phát triển sức sản xuất dưới tác động tích cực của cuộc cách mạng khoa học công nghệ.