Chương 1: Cơ sở lý luận quá trình hình thành chính sách thủy lợi phí Chương 2: Thực trạng áp dụng thủy lợi phí trên địa bàn tỉnh Phú Thọ “Chương 3: Dé xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách thủy lợi phí trên địa. bàn tinh Phú Thọ, 5 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH THUY LỢI PHÍ 1. Quá trình hình thành chính sách thủy lợi phí 1. Khái niệm thấy lợi phí ‘Thuy lợi phí (TLP) là gì? Theo Nghị định số 66-CP ngày 5 thắng 6 năm 1962 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) thi “phi tén về quản lý và tu sửa của các hệ thống nông giang” mà người dùng nước phải trả được gọi là "thủy lợi phí” “Trong nghị định nay đã khẳng định *.
Tắt cả các hệ thống nông giang do Nhà nước đầu tư vốn phục hồi hoặc xây dựng mới và sản lượng của ruộng đất được tưới hay tiêu nước đã tăng lên, đều do nhân dân, hợp tác xã có ruộng đất được hưởng nước chịu phí tổn về quản lý và tu sửa. Phí tổn này gọi là thủy lợi Nhu vậy đối tượng phải trả thủy lợi phí chủ yếu là nông dân va khi nói đến thủy lợi phí là nói đến nông đân. Cong trình thủy lợi ngày cảng được đầu tư hoàn chỉnh và hiện đại hơn, nhằm phục vụ tốt, đáp ứng yêu cầu sử dụng nước ngày càng lớn của nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có cả đối tượng là các tổ chức lim dịch vụ, kinh doanh. Chỉ phí cho quản lý, khai thác công trình lớn hơn, nhà nước không bao.
a thiểu vốn cho tu sửa bao dưỡng .công trình ngay cảng xuống cấp. chính sách TLP đã phải thay đổi nhiều Lin, Nhiều nhà hoạch định chính sách đến nay vẫn chưa thửa nhận chính thức và thống nhất về tinh chất hàng hóa của nước được cung cấp từ công trình thủy. lợi, mặc dù đã có nhiễu nghiên cứu khẳng định nước là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó không giống bắt kỳ loại hàng hóa nao, vì nó là loại vật tư hay nguyên liệu quí hiếm không có gi thay thé được. Nhiều người đã coi nước là loại vàng.
Sự tranh cai kéo đài, không có trọng tải phân xử. 6 C6 chuyên gia đã khẳng định TLP thực chất là một khoản chỉ phí đầu vào. của sản phẩm nông nghiệp có tưới tương tự như phân, giống, điệ „ dầu bơm nước. ào ruộng của hộ nông dân.
mi người nông dân phải trả và ặt ra câu hỏi đơn giản là: Tại sao phân thi cô giá phân, điện có gia điện, nhưng tại sao nước lại không có giá nước? Nhà nước đã có chính sách đối với từng đối tượng cụ thể, như giá điện đối với doanh nghiệp, kinh doanh (phải tinh đủ) còn điện bơm nước tưới, tiêu, điện sinh hoạt được bao cấp.Như vậy, nước (nước sạch) đã có giá, thì nước tưới cho nông nghiệp cũng phải có giá, tuy phải được nhà nước bao cấp, nhiều hơn (áp dụng chính sách đối với nông dân, nông nghiệp). Mức giá này được nhà nước bao cấp, chi tương đương với mức TLP mà nông dân phải trả. Có nghĩa là nên sử dụng cụm từ giá nước nhằm tác động mạnh vào ý thức của người dùng nước là dùng nước phải trả tiền ( giá như các vật tư khác) như da được Luật Tài nguyên nước qui định. Ngày 04/4/2001, Quốc hội ban hành Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi (số 32/2001/PL-UBTVQH10).
Trong Pháp lệnh bước đầu đã có sự phân biệt hai cụm từ : Thủy lợi phí và tiền nước. Cụ thể như sau “Thủy lợi phí” là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng va bảo vệ công trình thủy lợi. “Tiền nước là giá tiền trong hợp đồng dịch vụ về nước thu từ tỏ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm địch vụ từ công trình thủy lợi ngoài mục đích sản xuất nông nghiệp” Như vậy, Thủy lợi phi là một trong những chỉ phí đầu vào (tương tự như chỉ phí tiền điện, phân, giống.) của sản xuất sản phẩm nông nghiệp có tưới mà người sản xuất phải trả. Với mức thu TLP như những năm vừa qua thì số tiễn TLP thu được chỉ để phục vụ cho việc vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình thủy lợi (mà thường là thấp xa so với nhu cầu) và cho người dùng nước ngay trên địa bàn của họ (không thu cho ngân sách như các loại thuế, không dùng để chỉ cho mục đích khác).2, Kinh nghiệm của một số nước trên thé giới về chính sách thus lợi phí 1.
Tổng quan Hầu sac quốc gia trên thé giớ đều coi nước từ công trình thủy lợi là loại hàng hóa "đặc biệt), là một trong các chỉ phí đầu vào của sản xuất sản phẩm nông nghiệp có tưới, mà người dùng phải trả. Mỗi một quốc gia đều có chính. xách riêng (trực thu, gián thu TLP), nhưng hầu hết chính phủ các nước đó đều có chính sách hỗ trợ tư bạn st xây dựng công tình thủy lợi đầu mỗi, công trình có qui mô lớn, không thu hỗi vốn, hỗ trợ kính phí cho sữa chữa lớn, công trình bị hư hỏng do thiên tai. Kinh phí quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng các công trình này được huy động từ người sử dụng nước, nhằm mục dich nâng cao.
ý thức của người ding nước trong việc sử dụng nước, bảo vệ, vận hành công trình an toàn, là biện pháp cải thiện được nguồn nước đang thik hụt nhờ tiết kiệm nước, đồng thời giảm được chỉ phí quản lý, công trình it hư hỏng, đảm bảo công bằng xã hội, phát huy vai trò của cộng đồng tham gia (PIM), Nhiều quốc gia thu TLP theo mét khối nước sử dụng, với mục đích đảm. bảo được tính công bằng trong việc sử dụng và khuyến khích tiết kiệm nước, “ding nhiễu, phải trả tiền nhiều và ngược lai” Như vậy việc thiết lập mức thu thuỷ lợi phí đối với sản xuất nông nghi phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của người dân để quyết định. Hau hết các nước, việc thu thuỷ lợi phí (giá nước) chỉ đề trang trải chi phí vận hành và bảo dưỡng và hầu như vẫn chưa đủ chỉ bù đắp được khoảng 20-70% cho phí vận hành và bảo dưỡng. Thực tế hiện nay, cả các nước phát triển và đang phát triển cũng đang.
tính lại chính sách về phí sử dụng nước và một số nước đã bắt đầu thu lại ít nhất một phần kinh phi đầu tư ban đầu tir người sử dụng như Australia và Brazil, Bên cạnh đó việc chuyển giao quản lý, vận hành cho người sử dụng cũng là một tiếp cận trong chính sách thiết lập mức thủy lợi phí ở các nước. Nhiều nước đang có xu hướng chuyển giao quản lý, vận hành cho người sử dụng hay các tổ. 8 chức phi chính phủ, đặc biệt là chuyên giao hệ thống thủy lợi cho người hưởng. lợi và tự thụ phí sử dụng nước để đảm bao chỉ phí vận hành.
Madagasca là nước điển hình tốt về công tác chuyển giao và hiện nay như An Độ, Pakistan và nhiều nước khác, Việt Nam cũng đàng xúc tiến chương trình chuyển giao này. Hoặc vấn để thúc day thị trường nước ở các nước phát triển cũng là một chương trình đang được triển khai. C: c nước đang phát triển đang chuyé sang thương mại hóa các dich vụ về nước như Mỹ, Australia, Israel cũng tương tự như vậy. Kinh nghiệm của một số nước trên thé giới về chính sách thuỷ lợi phí Kinh nghiệm ở Trung Quắc Chính phủ ban hành chính sách về giá nước mang tinh nguyên tắc (quy định khung), giao quyền cho địa phương trực tiếp quản lý công trình quy định cụ thể cho phù hợp trên cơ sở lợi ích kinh tế và mức chỉ phí thực tế đã sử dụng, mức chỉ phi tính toán va ý kiến tham gia của người dân.
Giá nước bao gồm các khoăn mục + Các loại khẩu hao. + Chỉ phí quản lý vận hành + Các loại thuế vả lãi Co cấu giá nước bao gồm: + Đảm bảo chỉ phi cho đơn vị quản lý vận hành + Đảm bảo tinh công bing (dùng nước phải trả tiền, dùng nhiễu trả nhiều, dùng it trả i) Kinh nghiệm của Trung q cho thấy từ khi bắt đầu thu thuỷ lợi phí (giá. nước), việc sử dụng nước được tỉ kiệm hơn, đặc biệt là từ khi thuỷ lợi phí được tính bằng mỶ. Nhưng điều này cũng là một thách thức đối với các đơn vị quản lý, điều này đòi hỏi đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi phái có các biện pháp để quản ly tốt, giảm các tổn thất để có nhiều nước bán cho nông dân theo yêt lầu của ho và giảm thiểu chỉ phí Giá nước tưới có chính sách riêng, được quy định phù hợp với điều kiện cụ thể, mang tính công ích và căn cứ vào chỉ phí thực tế.
Nha nước có chính sách hỗ trợ cho các trường hợp sau: + Vùng nghèo khó khăn, mức sống thấp. + Khi công trình hư hỏng nặng cần phải sửa chữa + Hỗ trợ chỉ phi cho diện tích tiêu phi canh tác. + Hỗ trợ chỉ phí tiền điện tưới tiêu. + Khi có thiên tai gây mat mùa phải giảm mức thuế sử dụng đất.
Tuy theo loại hình công trình, tự chảy hay động lực, điều kiện cụ thé của hệ: thống công trình để quy định mức thu và có chính sách hỗ trợ. Cơ quan nao quyết định miễn giảm giá nước tưới thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù hỗ trợ tài chính cho đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi Kinh nghiệm ở Australia Tại lưu vực miền nam Murray-Darling năm 1992 thuỷ lợi phí từ nông nghiệp thu đáp ứng được 80% chỉ phí vận hành và bảo dưỡng và đến năm 1996. thu được 100% chỉ phí vận hành và bảo dưỡng. Giá nước cũng khác nhau giữa các vùng, Ở bang Victoria mức thu gần đảm bảo chi phí vận hành và bảo dưỡng (năm 1995), ở New South Wales thu trong nội bang thu khoảng 0.92 USD/1000m` (chỉ tương đương khoảng gần 13 đ năm 1995) trong khi đó nếu nước được đưa sang bang Vietoria thì giá nước tăng hơn 3,6 lần giá nước trong nội bang New South Wales.
Tương tự như vậy ở bang Queensland giá thu trong nội bang khoảng 1,5USD/1000m` trong khi đó giá nước khi chuyển ra ngoài ranh giới bang tăng hơn 4,2 I : cuối cùng đối với vùng miễn nam, lưu vực Muray-Darlinh năm 1991-1992 mức thu mg đều hơn 7,8USD/1000m’ (tương.