Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu dải bờ biển dài hơn 3.200 km đóng vai trò chiến lược trong an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, tình trạng xói lở bờ biển dưới tác động của biến đổi khí hậu và can thiệp nhân sinh đang đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh cùng cơ sở hạ tầng ven bờ. Tỉnh Bình Thuận với 192 km bờ biển là một trong những trọng điểm về xói lở tại khu vực Nam Trung Bộ, trong đó thành phố Phan Thiết chiếm 57,4 km đường bờ chịu tổn thương sâu sắc. Bãi biển Đồi Dương thuộc phường Hưng Long là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng trọng điểm của thành phố nhưng liên tục đối mặt với nạn biển xâm thực và suy giảm nghiêm trọng diện tích bãi tắm.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự mất cân bằng cán cân bùn cát ven bờ và tác động bất lợi của các công trình bảo vệ bờ dạng kè cứng đơn lẻ. Điển hình tại đoạn bờ phía bắc cửa Phú Hải, tốc độ xói lở thực tế đạt từ 7 đến 10 m/năm, gây sạt lở hơn 1,1 km bờ biển và đe dọa trực tiếp hơn 40 hộ dân. Khu vực lân cận như phường Đức Long từng chứng kiến đợt triều cường làm sập 69 ngôi nhà và cuốn trôi sâu hơn 100 m đất liền. Mục tiêu cụ thể của luận văn là ứng dụng mô hình số trị MIKE 21 để mô phỏng chế độ thủy động lực, làm rõ cơ chế vận chuyển bùn cát và đề xuất giải pháp công trình chỉnh trị tổng thể bảo vệ bãi biển Đồi Dương. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn từ tọa độ 10°42'10" đến 11°00'00" vĩ độ Bắc và 108°00'10" đến 108°21'30" độ kinh Đông, kế thừa chuỗi số liệu khí tượng hải văn từ năm 1990 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để giảm thiểu xói lở trên 80%, bảo vệ hơn 1,4 km bờ biển du lịch và bảo đảm an sinh cho hơn 216.500 dân cư tại đô thị Phan Thiết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học vùng ven bờ và cơ học trầm tích biển. Trọng tâm của khung lý thuyết là hệ phương trình vi phân Navier-Stokes hai chiều trung bình theo độ sâu, bao gồm phương trình liên tục bảo toàn khối lượng và hệ phương trình bảo toàn động lượng theo phương ngang có xét đến lực ma sát đáy, hiệu ứng gia tốc Coriolis và gradient ứng suất bức xạ sóng. Bên cạnh đó, mô hình vận chuyển bùn cát phi cố kết dựa trên lý thuyết tương tác giữa sóng và dòng chảy ven bờ được áp dụng để xác định trường phân bố nồng độ trầm tích và tốc độ xói bồi đáy biển.

Khung lý thuyết tích hợp ba khái niệm cốt lõi: chế độ nhật triều không đều ven bờ biển Bình Thuận với độ lớn triều từ 1,5 đến 2,0 m trong kỳ nước cường; ứng suất bức xạ sóng sinh ra do sóng biến dạng và vỡ khi truyền vào vùng nước nông; và cán cân bùn cát ven bờ. Động lực học hình thái bờ biển được nhìn nhận là kết quả tương tác phức tạp giữa trường sóng hỗn hợp gió - lừng có độ cao cực đại ngoài khơi vượt 7,0 m với dòng chảy dọc bờ có vận tốc lên tới 0,65 m/s.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và phương pháp chọn mẫu, luận văn thiết lập miền tính lưới phi cấu trúc bao gồm 12.268 phần tử tam giác với kích thước mắt lưới biến thiên từ 40 m ở sát bờ Đồi Dương đến 400 m ở ngoài khơi nhằm bảo đảm độ chi tiết hình học tại khu vực ven bờ. Dữ liệu địa hình đáy biển được thu thập từ đợt đo đạc thực tế tháng 8 năm 2009 của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam kết hợp hải đồ tỷ lệ 1:25.000 do Hải quân cung cấp. Dữ liệu khí tượng thủy văn được chọn lọc từ chuỗi quan trắc 17 năm giai đoạn 1990-2007 tại trạm Phú Quý và trạm hải văn Bạch Hổ.

Phương pháp phân tích số trị sử dụng bộ phần mềm MIKE 21 do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển, bao gồm các mô đun MIKE 21 HD tính toán thủy động lực, MIKE 21 SW mô phỏng phổ sóng và MIKE 21 ST mô phỏng vận chuyển cát. Lý do lựa chọn mô hình này là nhờ thuật toán Implicit ADI mạnh mẽ, cho phép mô phỏng chính xác miền tính phức tạp có đường bờ cong lõm dạng cánh cung và hiện tượng sóng vỡ ven bờ. Quá trình hiệu chỉnh mô hình được thực hiện liên tục trong 13 ngày với bước thời gian tính toán 30 giây. Kết quả so sánh mực nước thực đo tại trạm Phan Thiết cho chỉ số Nash đạt 0,87 và hệ số tương quan R vượt 0,80, khẳng định độ tin cậy khoa học cao của mô hình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô phỏng chế độ thủy động lực trong mùa gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 chỉ ra rằng dòng chảy ven bờ chảy chủ đạo theo hướng từ Bắc xuống Nam với lưu tốc cực đại tại cửa sông Cà Ty đạt 0,65 m/s, tại cửa Phú Hải đạt 0,26 m/s và tại khu vực bãi biển Đồi Dương đạt 0,18 m/s. Trường sóng truyền theo hướng Đông Bắc tạo góc xiên với đường bờ cánh cung Đồi Dương, làm gia tăng ứng suất kéo đáy và vận chuyển một lượng lớn cát rời rạc ra khỏi bãi tắm về phía Nam, gây xói lở sâu từ 3 đến 5 m/năm dọc dải bờ.

Thứ hai, trong mùa gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10, sóng có xu hướng vuông góc với bờ với chiều cao sóng sát bờ tại Đồi Dương đạt 0,84 m và cửa Phú Hải đạt 0,88 m. Dù dòng chảy đảo chiều từ Nam lên Bắc với vận tốc triều lên tại Đồi Dương đạt 0,15 m/s và triều xuống đạt 0,095 m/s, lượng bùn cát bồi đắp chỉ phục hồi khoảng 20% đến 30% khối lượng cát bị xói mòn trong mùa đông, dẫn đến sự thâm hụt cán cân trầm tích thực tế hàng năm.

Thứ ba, phân tích địa chất công trình cho thấy lớp cát bề mặt bãi biển Đồi Dương chứa 99% cát thạch anh hạt mịn đến trung với tỷ trọng 2,67, góc ma sát trong 28,34 độ và lực kết dính gần như bằng không ở mức 0,03 kg/cm2. Do thiếu tính kết dính tự nhiên, bờ biển cực kỳ nhạy cảm trước tác động xói mòn của dòng triều và sóng lừng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng xói lở nghiêm trọng tại Đồi Dương bắt nguồn từ sự kết hợp bất lợi giữa động lực sóng gió tự nhiên và tác động cơ học của các công trình bảo vệ bờ. Dữ liệu địa hình đáy tại 5 mặt cắt đặc trưng từ MC1 đến MC5 qua các kịch bản mô phỏng phản ánh rõ sự xói sâu lòng dẫn và hạ thấp cao độ đáy biển từ 0,5 đến 1,2 m sau mùa gió Đông Bắc. Khi trình bày qua biểu đồ mặt cắt địa hình đáy và sơ đồ phân bố vector trường dòng chảy, người đọc dễ dàng nhận thấy sự dịch chuyển bùn cát cả theo phương dọc bờ lẫn phương ngang bờ, tạo ra các hố xói cục bộ sát chân công trình kè.

So sánh với các nghiên cứu ven biển tại khu vực duyên hải miền Trung, kết quả của luận văn khẳng định quy luật rằng các công trình kè cứng dạng tường đứng như kè cửa sông Cà Ty có hệ số phản xạ sóng cao từ 60% đến 80%, làm triệt tiêu bãi cát phía trước chân kè và chuyển dịch điểm xói lở ác liệt sang dải bờ kế cận phía hạ lưu dòng chảy bùn cát. Điều này lý giải tại sao việc kè cứng đơn lẻ tại Phan Thiết trong quá khứ đã làm biến mất dải bãi tắm cát thoải dài 1.400 m của bãi biển Đồi Dương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi định hướng từ giải pháp công trình cứng sang giải pháp công trình mềm thông qua kỹ thuật nuôi bãi nhân tạo. Thực hiện cấp cát bổ sung trực tiếp bằng hệ thống vòi rồng kết hợp phương tiện cơ giới với khối lượng khoảng 30.000 đến 50.000 m3 cát thạch anh hạt trung nhằm tái tạo dải bãi cát rộng từ 25 đến 35 m phục vụ tắm biển và tiêu tán năng lượng sóng tự nhiên. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết phối hợp Sở Xây dựng, hoàn thành giai đoạn thử nghiệm trong vòng 12 tháng.

Thứ hai, xây dựng hệ thống công trình tiêu năng kết hợp gồm tuyến đê ngầm phá sóng xa bờ bằng khối bê tông đúc sẵn hoặc ống địa kỹ thuật Geotube kết hợp hệ thống mỏ hàn mềm vuông góc với bờ. Target metric là triệt tiêu trên 60% năng lượng sóng tới trước khi tiếp cận mép bờ và giữ lại ít nhất 70% lượng cát nuôi bãi không bị dòng chảy dọc bờ cuốn trôi. Lộ trình triển khai kỹ thuật thực hiện trong giai đoạn 2024-2026 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư.

Thứ ba, ban hành quy chế quản lý tổng hợp vùng bờ và xác lập hành lang bảo vệ bờ biển tối thiểu từ 50 đến 100 m tính từ mép nước triều cao trung bình nhiều năm. Nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động khai thác cát trái phép và lấn chiếm bãi triều tự nhiên nhằm bảo vệ thảm thực vật rừng phi lao chắn gió ven bờ. Trách nhiệm triển khai thuộc về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận bắt đầu từ quý I năm 2025.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới quan trắc thủy thạch động lực tự động ven bờ kết hợp ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để cập nhật biến động đường bờ định kỳ 6 tháng một lần. Đo lường chính xác tốc độ bồi xói tại 5 mặt cắt kiểm soát nhằm đưa ra cảnh báo sớm cho cộng đồng dân cư. Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam chủ trì hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trong giai đoạn 2024-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật phong phú cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách ven biển: Bao gồm Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận. Kết quả mô phỏng giúp cơ quan quản lý xây dựng quy hoạch tổng thể chống sạt lở bờ biển, cấp phép xây dựng các công trình ven bờ và quản lý tài nguyên cát bền vững.
  • Đơn vị tư vấn, kỹ sư thiết kế công trình thủy và cảng biển: Bao gồm các viện nghiên cứu, doanh nghiệp xây dựng công trình thủy lợi, đê kè ven biển. Bộ thông số thủy động lực học, trường sóng và phương pháp thiết kế nuôi bãi kết hợp đê ngầm là cơ sở lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật cho các dự án bảo vệ bờ biển miền Trung.
  • Doanh nghiệp đầu tư du lịch và nghỉ dưỡng ven biển: Các chủ đầu tư resort, khách sạn dọc dải bờ biển Đồi Dương - Phan Thiết - Mũi Né. Doanh nghiệp có thể lựa chọn giải pháp bảo vệ bãi tắm sinh thái, hạn chế tối đa việc xây kè cứng làm mất cảnh quan và suy giảm doanh thu du lịch.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kỹ thuật Biển: Tài liệu cung cấp phương pháp luận thiết lập mô hình số trị MIKE 21 phi cấu trúc, kỹ thuật hiệu chỉnh thông số Nash và lý thuyết tương tác sóng - dòng chảy - trầm tích làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Bờ biển Đồi Dương chịu xói lở mạnh nhất vào mùa nào trong năm và tại sao? Xói lở diễn ra khốc liệt nhất vào mùa gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Gió mùa tạo ra trường sóng lớn với chiều cao cực đại trên 7,0 m ngoài khơi và dòng chảy dọc bờ đạt lưu tốc 0,18 đến 0,65 m/s chảy xiên góc hướng Bắc - Nam, bóc tách và cuốn trôi lớp cát rời rạc ra xa bờ.

Tại sao các giải pháp kè cứng truyền thống không giải quyết triệt để vấn đề xói lở bãi tắm Đồi Dương? Kè thẳng đứng bằng bê tông làm tăng phản xạ sóng từ 60% đến 80%, gây xói sâu chân kè và triệt tiêu hoàn toàn bãi cát khô dài 1.400 m. Đồng thời kè cứng chặn dòng bùn cát dọc bờ, gây xói lở lan truyền nghiêm trọng sang các đoạn bờ lân cận với chiều dài từ 1 đến 1,2 km.

Mô hình số trị MIKE 21 mang lại ưu thế gì trong đánh giá diễn biến đường bờ? MIKE 21 với lưới tam giác phi cấu trúc gồm 12.268 phần tử cho phép mô phỏng chính xác sự tương tác phức tạp giữa sóng, triều và bùn cát tại vùng bờ cong. Kết quả đạt chỉ số hiệu quả Nash 0,87, cung cấp kịch bản dự báo chuẩn xác phục vụ thiết kế công trình bảo vệ bờ.

Giải pháp nuôi bãi nhân tạo vận hành như thế nào tại bờ biển Phan Thiết? Nuôi bãi là phương pháp công trình mềm bằng cách bổ sung khoảng 30.000 đến 50.000 m3 cát thạch anh hạt trung trực tiếp qua vòi rồng để tái tạo dải bãi cát rộng 25 đến 35 m. Giải pháp này vừa tiêu hao năng lượng sóng tự nhiên vừa khôi phục bãi tắm du lịch sinh thái.

Số liệu đầu vào cần thiết để mô phỏng thủy động lực học ven bờ gồm những gì? Mô hình cần kết hợp địa hình đáy biển tỷ lệ 1:25.000, chuỗi số liệu gió và sóng trạm Phú Quý từ 17 năm quan trắc, số liệu lưu lượng sông Cà Ty từ 18 đến 45 m3/s, cùng đặc tính bùn cát với đường kính hạt trung bình 0,25 mm để đảm bảo độ tin cậy.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng xói lở bờ biển Đồi Dương, chỉ ra tốc độ sạt lở nghiêm trọng từ 7 đến 10 m/năm tại các điểm nóng ven bờ Phan Thiết.
  • Ứng dụng thành công bộ mô hình số trị MIKE 21 với lưới phi cấu trúc 12.268 ô lưới, đạt độ chính xác cao với chỉ số hiệu quả Nash đạt 0,87.
  • Làm rõ cơ chế động lực học theo hai mùa gió, chứng minh sự thâm hụt trầm tích thường niên do sóng mùa đông và tác động tiêu cực của kè cứng phản xạ sóng.
  • Đề xuất đồng bộ giải pháp công trình mềm nuôi bãi nhân tạo từ 30.000 đến 50.000 m3 cát kết hợp đê ngầm giảm sóng và phân vùng quản lý tổng hợp vùng bờ.
  • Định hình khung chính sách quản lý hành lang bảo vệ bờ biển tối thiểu từ 50 đến 100 m cho thành phố Phan Thiết trong giai đoạn phát triển bền vững.

Về lộ trình tiếp theo, địa phương cần sớm triển khai dự án thí điểm nuôi bãi nhân tạo và lắp đặt trạm đo sóng tự động trong vòng 6 đến 12 tháng tới. Đề tài mở ra hướng tiếp cận khoa học bền vững, hài hòa giữa kỹ thuật công trình biển và bảo tồn cảnh quan sinh thái cho toàn dải duyên hải Nam Trung Bộ.