Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km đường bờ biển với 89 cửa sông lớn nhỏ, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế biển và an ninh quốc phòng. Tỉnh Phú Yên có bờ biển dài 189 km với địa hình đới bờ phức tạp, thường xuyên đối mặt với các hình thế thiên tai cực đoan, chịu ảnh hưởng bình quân từ 6 đến 8 cơn bão mỗi năm. Trong những năm gần đây, tình trạng xói lở bờ biển tại thành phố Tuy Hòa diễn biến hết sức nghiêm trọng, đặc biệt tại khu vực Xóm Rớ, phường Phú Đông. Tốc độ xâm thực bờ biển tại đây từng ghi nhận mức kỷ lục từ 45 đến 50 m/năm, cuốn trôi nhiều diện tích đất ở và đe dọa trực tiếp đời sống của hơn 200 hộ dân sinh sống sát mép nước.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là tổng hợp, đánh giá toàn diện hiện trạng sạt lở và cơ chế thủy thạch động lực tại khu vực hạ lưu cửa sông Đà Diễn đến bờ biển phường Phú Đông giai đoạn 2012–2015. Trên cơ sở khoa học đó, tác giả nghiên cứu đề xuất giải pháp công trình bảo vệ bờ biển tối ưu về mặt cắt, tuyến công trình và kết cấu kè. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi không gian bờ biển phường Phú Đông và vùng biển lân cận thành phố Tuy Hòa trong chu kỳ quan trắc và mô phỏng khí tượng hải văn nhiều năm.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc bảo vệ trực tiếp tính mạng và tài sản cho cộng đồng dân cư ven biển, ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng giao thông đô thị. Nghiên cứu góp phần cụ thể hóa mục tiêu của Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang theo Quyết định số 667/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 80% thiệt hại do xói lở bờ biển gây ra trong các mùa mưa bão tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp các lý thuyết cơ học đất nền, thủy lực công trình thủy công và động lực học vùng bờ biển. Trọng tâm là lý thuyết thấm qua thân và nền đê biển theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4253:2012 và TCVN 9143:2012, phân tích đường bão hòa và gradient thấm tại các điểm thoát nước nguy hiểm với hệ số thấm đất nền vượt ngưỡng 1 nhân 10 mũ trừ 3 cm/s. Đồng thời, lý thuyết cân bằng giới hạn được áp dụng để xác định hệ số an toàn ổn định chống trượt tổng thể và trượt cục bộ của mái dốc theo TCVN 8216:2009. Đối với kết cấu tường đứng, nghiên cứu sử dụng lý thuyết áp lực đất chủ động và bị động của Coulomb - Rankine, kết hợp lý thuyết tải trọng sóng biển va đập theo TCVN 8421:2010 nhằm tính toán ổn định chống trượt phẳng và chống lật quanh mép chân công trình với hệ số ma sát tiếp xúc dao động từ 0,50 đến 0,70.

Các khái niệm chính được vận hành xuyên suốt bao gồm: hệ số ổn định chống trượt (Ks), lưu lượng sóng tràn cho phép qua đỉnh kè (q), chiều cao lưu không (Rc), dải sóng vỡ ven bờ (Lb) và cơ chế vận chuyển bùn cát dọc bờ dưới tác động của dòng chảy ven bờ. Nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ khung pháp lý của Luật Đê điều số 79/2006/QH11, Tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 9901:2014 về yêu cầu thiết kế đê biển và Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCVN 04-05.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ các trạm khí tượng thủy văn khu vực Nam Trung Bộ, chuỗi số liệu quan trắc địa hình đáy biển, cao trình bãi từ âm 1,0 m đến dương 1,0 m và các tài liệu khảo sát địa chất công trình từ 5 hố khoan tiêu chuẩn tại khu vực bờ biển Tuy Hòa. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 15 mặt cắt ngang địa hình bờ biển đại diện trải dài trên đoạn bờ hơn 1.500 m tại phường Phú Đông. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các vị trí xung yếu có cường độ xói lở sâu nhất từ năm 2012 đến cuối năm 2014.

Nghiên cứu lựa chọn phương pháp mô hình hóa toán học kết hợp phương pháp tính toán giải tích truyền thống. Tác giả sử dụng mô hình DELFT 3D để mô phỏng trường dòng chảy và vận chuyển bùn cát qua cửa Đà Rằng; mô hình WADIBE-CT để tính toán chiều sâu hố xói cục bộ dưới chân kè trong điều kiện bão kéo dài 4 giờ liên tục; mô hình GENESIS để dự báo xu thế biến đổi đường bờ sau khi xây dựng công trình; và phần mềm GEO-SLOPE/W để kiểm tra hệ số ổn định trượt mái dốc. Lý do lựa chọn tổ hợp các phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác tương tác phức tạp giữa chế độ sóng, dòng chảy cửa sông và bùn cát đáy biển, khắc phục hạn chế của các tính toán đơn lẻ trước đây. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được hoàn thành vào đầu năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác định tốc độ xâm thực bờ biển tại Xóm Rớ thuộc phường Phú Đông là điểm nóng xói lở nghiêm trọng nhất toàn tỉnh Phú Yên. Mức độ xâm thực trung bình đạt từ 45 đến 50 m/năm trong giai đoạn 2009–2012, cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với các khu vực xói lở khác như Long Thủy (25–30 m/năm) hay thôn 5 xã An Ninh Đông (20–30 m/năm).

Thứ hai, kết quả mô phỏng bằng mô hình WADIBE-CT cho thấy kè đá đổ và rọ đá tạm thời gia cố năm 2014 bị phá hủy hoàn toàn là do hiện tượng hạ thấp cao trình mặt bãi biển xuống âm 1,0 m trong bão, tạo ra hố xói chân kè sâu từ 1,8 m đến 2,2 m chỉ sau 4 giờ tác động của sóng bão có chu kỳ lặp lớn.

Thứ ba, tính toán từ mô hình DELFT 3D chỉ ra rằng lưu lượng bùn cát dịch chuyển dọc bờ qua cửa Đà Rằng đạt khoảng 150.000 đến 200.000 m3/năm theo hướng Bắc - Nam vào mùa gió Đông Bắc. Khi địa hình bãi bị mất cân bằng bùn cát nghiêm trọng, các đợt triều cường kết hợp sóng lớn dễ dàng đánh sập các kết cấu mái kè có lớp bảo vệ không đủ trọng lượng.

Thứ tư, qua so sánh ba phương án kỹ thuật, phương án kè mái nghiêng lát cấu kiện bê tông đúc sẵn tự chèn kết hợp hệ thống mỏ hàn chữ T ngoài bãi cho thấy khả năng tiêu tán năng lượng sóng đạt trên 65%, đồng thời giữ lại được khoảng 80% lượng cát bồi tụ giữa các mỏ hàn so với phương án kè tường đứng truyền thống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây sạt lở bờ biển Phú Đông là sự mất cân bằng động lực học giữa tác động của sóng biển mùa gió Đông Bắc và nguồn bùn cát bổ sung từ sông Đà Rằng bị sụt giảm. Khi bão kết hợp triều cường, sóng vỡ đổ trực tiếp vào chân công trình tạo dòng xoáy đáy cuốn trôi lớp cát đệm, làm sập rọ đá và phá vỡ cấu kiện bảo vệ mái. So sánh với các công trình kè biển lân cận như kè An Ninh Đông (dài 243,5 m) và kè An Phú (dài 481,6 m), các dạng kè tường đứng đơn thuần có nhược điểm tạo sóng phản xạ lớn, làm gia tăng cường độ xói chân kè nếu không có hệ thống cọc ngàm sâu và lăng thể đá phản áp đủ lớn.

Các dữ liệu nghiên cứu được trình bày trực quan thông qua bảng tổng hợp các tham số thiết kế cơ bản, bảng phân cấp độ bền vật liệu và biểu đồ quan hệ giữa lưu lượng sóng tràn q với chiều cao lưu không Rc. Đồ thị tiến triển hố xói cục bộ theo thời gian mô phỏng WADIBE-CT làm rõ ranh giới an toàn cho cao trình chân cừ ngàm bảo vệ. Kết quả này chứng minh rằng việc kết hợp công trình bảo vệ bờ trực tiếp với hệ thống mỏ hàn giảm sóng từ xa là giải pháp mang tính đột phá và bền vững nhất cho đới bờ biển miền Trung.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai xây dựng tuyến kè bảo vệ bờ dạng mái nghiêng kết hợp hệ thống mỏ hàn chữ T với chiều dài tuyến kè chính khoảng 1.500 m. Mái kè có hệ số dốc từ m = 3 đến m = 4, được bảo vệ bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn khóa ngàm ba chiều liên kết chặt chẽ trên tầng lọc ngược bằng vải địa kỹ thuật không dệt và lớp đá dăm đệm dày 20 cm. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Dự án Thủy lợi và Phòng chống thiên tai tỉnh Phú Yên, hoàn thành trong mốc thời gian 24 tháng nhằm giảm thiểu trên 85% nguy cơ sạt lở bờ.

Thứ hai, gia cố kiên cố hóa chân kè bằng hệ thống cọc cừ bê tông cốt thép dự ứng lực ngàm sâu vào tầng địa chất ổn định đến cao trình tối thiểu âm 3,5 m. Phía ngoài chân kè bố trí lăng thể đá đổ hộ chân với khối lượng viên đá từ 300 kg đến 500 kg để ngăn chặn triệt để hiện tượng moi xói đáy. Doanh nghiệp xây dựng công trình thủy công chuyên nghiệp chủ trì thực hiện theo đúng thiết kế bản vẽ thi công.

Thứ ba, thiết lập quy trình quan trắc định kỳ đường bờ và cao trình bãi biển với tần suất 6 tháng/lần vào trước và sau mùa mưa bão. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên phối hợp với chính quyền thành phố Tuy Hòa chủ trì vận hành trạm đo đạc, kịp thời phát hiện biến dạng lún sụt hoặc xói lở cục bộ để xử lý duy tu trong vòng 30 ngày sau khi xảy ra thiên tai lớn.

Thứ tư, kết hợp giải pháp phi công trình thông qua việc khôi phục dải cây xanh chắn cát, chắn sóng ven biển bằng cây phi lao với diện tích từ 10 đến 15 ha tại khu vực bãi bồi phía trong đê kè. Ủy ban nhân dân phường Phú Đông huy động cộng đồng dân cư địa phương triển khai trồng và bảo vệ trong vòng 12 tháng, nhằm tạo cảnh quan sinh thái và ngăn chặn cát bay xâm nhập vào khu dân cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư và chuyên gia thiết kế công trình thủy - hải văn: Đây là tài liệu tham khảo giá trị để nắm bắt quy trình tính toán ổn định thấm, trượt mái dốc, xác định lực tác động của sóng vỡ và ứng dụng các phần mềm chuyên ngành như DELFT 3D, WADIBE-CT vào bài toán thực tế đới bờ.

Nhóm cán bộ quản lý và hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý đê điều, Ban Quản lý dự án cấp tỉnh và thành phố: Luận văn cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng giúp xây dựng chiến lược đầu tư công, lập báo cáo tiền khả thi cho các dự án đê kè biển và tối ưu hóa nguồn vốn ngân sách phòng chống thiên tai theo các chương trình mục tiêu quốc gia.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy, Quản lý Đới bờ và Kỹ thuật Tài nguyên nước: Luận văn đóng vai trò là một case-study hoàn chỉnh về xử lý sự cố xói lở bờ biển miền Trung, cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát hiện trường, lý thuyết cơ học và mô phỏng số.

Nhóm doanh nghiệp và nhà thầu thi công hạ tầng thủy lợi ven biển: Cung cấp các chỉ dẫn kỹ thuật quan trọng về biện pháp thi công bè chìm đá đổ, đóng cọc cừ bê tông dự ứng lực trong điều kiện mực nước triều biến động và giải pháp đảm bảo an toàn thi công trong mùa mưa bão.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến bờ biển Xóm Rớ, phường Phú Đông bị xói lở dữ dội lên tới 45–50 m/năm là gì? Hiện tượng này xuất phát từ tác động tổng hợp của sóng bão mùa Đông Bắc có năng lượng rất lớn, triều cường dâng cao và sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn phù sa, cát bồi từ thượng nguồn sông Đà Rằng. Địa hình bãi ngang chịu tác động trực diện khiến đáy cát ven bờ bị rửa trôi nhanh chóng.

Tại sao các giải pháp kè tạm bằng rọ đá và đá đổ trước năm 2015 đều bị sóng đánh sập? Các công trình tạm thời có kích thước mặt cắt nhỏ, cao trình đỉnh thấp và chân kè không được ngàm sâu. Khi bão đổ bộ, sóng biển kết hợp dòng xoáy đáy hạ thấp cao trình mặt bãi xuống âm 1,0 m, tạo hố xói sâu tới 2,2 m làm trôi cát nền, khiến lăng thể đá mất chân đỡ và đổ sập hoàn toàn.

Hệ thống mỏ hàn chữ T mang lại lợi ích kỹ thuật vượt trội nào cho khu vực ven biển Phú Đông? Mỏ hàn chữ T vươn ra biển giúp ngăn cản dòng chảy bùn cát dọc bờ, cản trở sóng tới xiên góc và tiêu hao năng lượng sóng từ xa. Cấu trúc này tạo điều kiện cho bùn cát bồi lắng vào khoảng giữa hai mỏ hàn, giúp nâng cao cao trình thềm bãi tự nhiên và bảo vệ an toàn cho thân kè phía trong.

Mô hình số DELFT 3D và WADIBE-CT giải quyết mắt xích kỹ thuật quan trọng nào trong luận văn? Mô hình DELFT 3D mô phỏng chính xác trường dòng chảy và lượng bùn cát dịch chuyển qua cửa sông Đà Rằng (khoảng 150.000–200.000 m3/năm), trong khi WADIBE-CT xác định chính xác chiều sâu xói chân kè sau 4 giờ bão. Nhờ đó, người thiết kế lựa chọn được cao trình chân cừ ngàm an toàn mà phương pháp giải tích không lượng hóa được.

Chi phí đầu tư và khả năng ứng dụng thực tiễn của giải pháp kè đề xuất được đánh giá như thế nào? Phương án kè mái nghiêng lát cấu kiện đúc sẵn kết hợp mỏ hàn tận dụng được nguồn vật liệu đá hộc và cát sẵn có tại địa phương, giúp tiết kiệm chi phí xây dựng so với tường đứng bê tông đặc khối. Kết cấu có độ bền cao, dễ duy tu sửa chữa cục bộ và hoàn toàn thích hợp với điều kiện địa chất ven biển Phú Yên.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành và bài học thực tiễn từ hơn 30 công trình đê kè biển trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
  • Làm rõ cơ chế xâm thực khốc liệt từ 45 đến 50 m/năm tại bờ biển phường Phú Đông do tác động kết hợp của dòng chảy cửa sông Đà Diễn, sóng bão và hiện tượng hạ thấp cao trình bãi.
  • Ứng dụng thành công tổ hợp mô hình thủy thạch động lực DELFT 3D, WADIBE-CT và GENESIS để lượng hóa chính xác các thông số sóng tràn, xói chân kè và diễn biến bồi xói đường bờ.
  • Đề xuất giải pháp công trình tối ưu gồm kè mái nghiêng bảo vệ bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn, hộ chân bằng cọc cừ dự ứng lực kết hợp hệ thống mỏ hàn chữ T tiêu năng giữ bãi.
  • Cung cấp các tiêu chí thiết kế, kích thước mặt cắt ngang và quy trình thi công cụ thể, có tính khả thi cao và sẵn sàng đưa vào ứng dụng thực tế.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng hoàn thiện hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công trong vòng 6 tháng tới, bố trí nguồn vốn trung hạn và hoàn thành xây lắp toàn tuyến trong 24 tháng. Các đơn vị tư vấn và cơ quan quản lý đới bờ cần nhanh chóng khai thác kết quả nghiên cứu này để triển khai các dự án kè biển đồng bộ, bảo vệ an toàn bền vững cho cộng đồng cư dân ven biển miền Trung.