Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu Chƣơng 2: Thời gian, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục (LUAN.ton 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ton CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, qu , hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; lƣu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền.
Thực tế, chƣa có đƣợc mô hình bảo tồn ĐDSH đƣợc áp dụng chung, mỗi nƣớc dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính sách mà xây dựng mô hình thân thiện với môi trƣờng, thiên nhiên theo hƣớng bền vững.Theo CBD bảo tồn ĐĐSH để ứng phó với BĐKH cần duy trì và phục hồi các ĐDSH tự nhiên, bảo vệ và tăng cƣờng các dịch vụ sinh thái, quản l môi trƣờng sống cho các loài có nguy cơ tuyệt chủng, tạo nơi trú ẩn và vùng đệm, thành lập mạng lƣới bảo vệ các loài động vật ở cạn, ở nƣớc và biển mà có thể thích nghi với sự thay đổi [36]. Bảo tồn ĐDSH đã đƣợc xem xét từ những năm 80 của thế kỷ XX trong chiến lƣợc của các tổ chức bảo tồn và phát triển, đặc biệt đƣợc thể hiện trong “Cứu lấy Trái Đất - Chiến lƣợc cho cuộc sống bền vững” và “Tƣơng lai chung của chúng ta” của Ủy ban Thế giới về Môi trƣờng và phát triển. Đến năm 1992, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về môi trƣờng và phát triển, bảo tồn ĐDSH đã đƣợc tất cả các nƣớc tham dự đặc biệt quan tâm và cam kết thực hiện với việc gia nhập Công ƣớc ĐDSH và chấp nhận các phƣơng thức và biện pháp bảo tồn sự đa dạng của các loài động, thực vật, sử dụng hợp l tài nguyên sinh học và đảm bảo lợi ích thu đƣợc phải đƣợc chia sẻ một cách công bằng. Song song với tiến trình này, Chƣơng trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã đƣợc giới thiệu, là văn kiện khuyến nghị các hành động trong phát triển KTXH thân thiện với môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên.
Các nƣớc trên thế giới đã coi công ƣớc này là một định hƣớng chiến lƣợc và là tiến trình cho công tác bảo tồn ĐDSH của quốc gia mình.ton 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ton Nhận thức của các tổ chức bảo tồn lớn trên thế giới nhƣ IUCN thay đổi theo tiến trình nhận thức từ nguyên tắc “Bảo tồn vị bảo tồn” tức là bảo tồn nghiêm ngặt giá trị ĐDSH, sang nguyên tắc “Bảo tồn vị nhân sinh” tức là bảo tồn phục vụ lợi ích của con ngƣời trong ngắn hạn cũng nhƣ trong tƣơng lai. Đi theo hƣớng nghiên cứu này, hiện nay trên thế giới hình thành các mô hình bảo tồn ĐDSH nhƣ mô hình phục hồi HST tổng hợp có sự tham gia của các bên liên quan (chính quyền địa phƣơng, cộng đồng bản địa, công ty …) tại vịnh Mehico, mô hình bảo vệ HST ven biển Thái Lan, mô hình chuyển giao quyền sở hữu tài nguyên cho cộng đồng tại Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, mô hình chi trả dịch vụ HST môi trƣờng và thích ứng dựa vào HST, mô hình quản l ĐDSH dựa vào cộng đồng… Một số mô hình bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển du lịch đã thành công ở một số nƣớc nhƣ Costa Rica, Ecuador và Kenya (Amerom, M. Costa Rica: khuyến khích khách du lịch sinh thái thông qua việc kết hợp giữa các khu vực đƣợc bảo vệ thuộc tƣ nhân và nhà nƣớc. Tất cả các cấp chính quyền cùng ngƣời dân đã xúc tiến du lịch sinh thái nhƣ một công cụ phát triển.
Kenya: đất nƣớc đƣợc coi là điểm đến du lịch về động, thực vật hoang dã đƣợc ƣa chuộng nhất của Châu Phi. Kenya có rất nhiều loài động vật, chúng đi lang thang trong 26 công viên, 28 khu dự trữ và khu bảo tồn động vật. Kenya là nƣớc tiên phong về du lịch thiên nhiên ở Châu Phi và đã nhận đƣợc viện trợ từ nƣớc ngoài hàng triệu đô la Mỹ để phát triển và duy trì các công viên và khu dự trữ của mình. Ecuador: du lịch sinh thái tập trung ở quần đảo Galapagos, vốn có hệ thực vật dồi dào và hệ động vật độc đáo.
Vào cuối thập niên 1990, chính phủ Ecuador nhận ra rằng khách du lịch đến nhiều là nguy cơ đe dọa hủy hoại động, thực vật nơi đây. Vào năm 1990, chính phủ thông qua luật đặc biệt để bảo tồn quần đảo Galapagos, áp đặt nghiêm ngặt hơn nhiều đối với số lƣợng khách du lịch và các hoạt động của họ có thể tiến hành. Mô hình bảo tồn ĐĐSH dựa vào cộng đồng (CbA) vẫn đƣợc đánh giá là mô hình có hiệu quả nhất hiện nay, đã đƣợc kiểm chứng bởi các tổ chức và một số nƣớc nhƣ: UNDP, WB, tổ chức Care quốc tế, làng Begnas-phía tây Nepal, (LUAN.ton 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ton làng Suid Bokkeveld-Nam Phi…. CbA là một quá trình đƣợc dẫn dắt bởi cộng đồng dựa trên các ƣu tiên, nhu cầu, hiểu biết và năng lực của cộng đồng để tăng cƣờng cho ngƣời dân lập kết hoạch bảo tồn ĐĐSH đó là: nâng cao nhận thức cho cộng đồng, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, kết hợp với các kiến thức khoa học vào quá trình đƣa ra các quyết định, hỗ trợ chính quyền địa phƣơng trong việc lập kế hoạch và ra quyết định trong việc bảo tồn có sự tham gia của ngƣời dân.
Đây là một trong những cơ sở l luận quan trọng trong việc đƣa ra các giải pháp bảo tồn ĐĐSH tại khu di tích Mỹ Sơn. Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam Việt Nam nằm ở phần đông bán đảo Đông Dƣơng, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận với xích đạo, phần đất liền trải dài trên 15 vĩ độ từ phía Bắc xuống phía Nam khoảng 1. Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên trên đất liền là 329.241 km2, 75% diện tích với trong đó là đồi núi. Vùng biển có bờ biển dài khoảng 3.260 km với vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km 2 gồm hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa.
Về khí hậu, Việt Nam không chỉ có khí hậu nhiệt đới gió mùa mà còn có cả khí hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao. Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu là cơ sở rất thuận lợi tạo nên tính ĐDSH phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các HST, loài và nguồn gen. Theo Báo cáo Quốc gia về ĐDSH năm 2011 do Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng công bố ta có thể thấy đƣợc những nét đặc trƣng của ĐDSH ở Việt Nam [3]. Đa dạng hệ sinh thái HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu HST trên cạn đặc trƣng nhƣ: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi.
Trong số đó thì rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên với tính chất rừng vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều kiểu thảm thực vật rừng khác nhau, có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất. Đồng thời, đây cũng là nơi cƣ trú của nhiều loài động vật hoang dã qúy hiếm có giá trị kinh tế và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra còn có các HST khác có thành phần loài nghèo hơn, nhƣ HST nông nghiệp và HST khu đô thị [3].ton 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ton HST đất ngập nƣớc nội địa: HST đất ngập nƣớc nội địa rất đa dạng, bao gồm các thủy vực nƣớc đứng nhƣ hồ tự nhiên, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nƣớc, các thủy vực nƣớc chảy nhƣ suối, sông, kênh rạch. Trong đó, có một số kiểu có tính ĐDSH cao nhƣ suối vùng núi, đồi, đầm lầy than bùn với rất nhiều các loài động vật mới cho khoa học đã đƣợc phát hiện ở đây.
Các HST sông, hồ ngầm trong hang động chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ [3]. HST biển và ven bờ: Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình thuộc 9 vùng phân bố tự nhiên với đặc trƣng ĐDSH biển khác nhau. Trong đó, ba vùng biển, bao gồm: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tàu có tính ĐDSH cao hơn các vùng còn lại. Các HST ven bờ nhƣ rừng ngập mặn, đầm phá, vụng biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng biển quanh các đảo ven bờ, đảo xa bờ là những nơi có tính ĐDSH cao đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi môi trƣờng.
Trong đó, rạn san hô và thảm cỏ biển đƣợc xem là các HST đặc trƣng quan trọng nhất do chúng có tính ĐDSH và có giá trị bảo tồn cao nhất. Hai HST này có quan hệ mật thiết và tƣơng hỗ lẫn nhau, tạo ra những chuỗi dinh dƣỡng đan xen quan trọng ở vùng biển và ven bờ của Việt Nam. Nếu HST này bị hủy hoại sẽ tác động tiêu cực đến các HST khác. Nếu mất cả hai loại HST này, các vùng biển ven bờ của Việt Nam có nguy cơ sẽ trở thành “thuỷ mạc” [3].
Từ những điểm trên có thể thấy, trên khắp vùng lãnh thổ của Việt Nam từ trên cạn đến nƣớc nội địa ra tới vùng biển, các kiểu HST tự nhiên rất đa dạng. Mỗi kiểu HST lại có quần xã sinh vật đặc trƣng. Tất cả tạo nên sự phong phú, đa dạng khu hệ sinh vật của Việt Nam. Đa dạng loài Việt Nam là một trong những quốc gia có ĐDSH cao.
Kết quả tổng hợp về điều tra cơ bản đến năm 2011 cho thấy: Về thực vật: tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài TVBC có mạch. Sau đó, trong công trình Danh lục các loài thực vật Việt Nam, chƣa kể các nhóm vi tảo ở nƣớc, các nhà thực vật đã thống kê có tới 16.428 loài thực vật.ton 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ton Về động vật ở cạn: đã thống kê và xác định đƣợc 10.300 loài động vật trên cạn, bao gồm 307 loài giun tròn (Nematoda), 161 loài giun sán k sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), trên 7.