phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010-2014 Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Nghiên cứu quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là một vấn đề khá mới mẻ. Tuy nhiên, khi khảo sát tƣ liệu cho đề tài, Tôi thấy có một số bài báo, công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ…ít nhiều đã đề cập đến nội dung của đề tài nhƣ sau. “Đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp” (2008) là bài báo của TS.
Đàm Hữu Đắc, Thứ trƣởng Bộ LĐTBXH (2008) đăng trên báo “Giáo dục và thời đại”. Trong bài báo này, tác giả đã tập trung đánh giá, nhận định và đƣa ra một số giải pháp nhằm thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu doanh nghiệp. Tuy nhiên, bài báo còn chƣa đề cập đến nhu cầu lao động của các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, các cửa hàng tạp hóa, dịch vụ, v.v… Tác giả Xuân Minh (2013) với bài viết: “Đào tạo nghề phải gắn với thị trường lao động”, Báo điện tử Văn hiến. Bài viết đề cập việc hƣớng đào tạo nghề gắn với thị trƣờng lao động, nhƣng chỉ mang tính chất gợi ý, tham khảo, mà chƣa đƣa ra các giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm hiện nay.
Tác giả Từ Lƣơng (2013) trong bài báo “Phải gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm”, đăng trong Báo điện tử Chính phủ, đã đƣa các vấn đề đào tạo nghề gắn với việc làm trên cơ sở tổng kết báo cáo về xây dựng nông thôn mới. Đối tƣợng mà tác giả tâ ̣p trung nghiên cứu ở đây là nông dân và các nghề đào ta ̣o ngắ n ha ̣n. Tuy nhiên, tác giả chƣa đề cập đế n các đố i tƣơ ̣ng ho ̣c nghề có trin ̀ h đô ̣ cao hơn. 7 z Tác giả Thảo Linh (2013) với bài viết “Kết quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số từ năm 2010 đến 2013”, đăng trên Trang thông tin điện tử của Ban nội chính Trung ƣơng.
Trong bài báo này, tác giả tập trung đánh giá kết quả thực hiện các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số, trong đó có liệt kê các chƣơng trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Nguyễn Hoàng Nam, 2009. Quản lý nhà nước về ĐTN tại Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sỹ kinh tế.
Công trình nghiên cứu đã tập trung vào công tác ĐTN của các trƣờng dạy nghề và yếu tố ảnh hƣởng đến công tác dạy nghề tại tỉnh Phú Thọ nhƣng chƣa nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến ngƣời học đặc biệt ngƣời học là LĐNT và tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt cao hay thấp. Phạm Mạnh Hà, 2011. Vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc làm cho LĐNT tỉnh Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH. Chuyên đề chuyên sâu 3 cấp Tiến sỹ.
Công trình nghiên cứu đã chỉ ra nhƣng tồn tại, yếu kém và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong tạo việc làm cho LĐNT tỉnh Ninh Bình. Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò quản lý nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho LĐNT tỉnh Ninh Bình trong quá trình CNH, HĐH và giải pháp đầu tiên tác giả đề xuất là cần coi trọng công tác quản lý nhà nƣớc về lao động và ĐTN. Nguyễn Minh Vịnh, 2013. Hỗ trợ của Nhà nước nhằm giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở huyện Từ Liêm – thành phố Hà Nội.
Luận văn Thạc sỹ kinh tế. Đã tập trung nghiên cứu những vấn đề bức thiết cần giải quyết đối với lao động nông nghiệp của huyện Từ Liêm trong bối cảnh đất nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng để thực hiện đô thị hoá và thực trạng việc hỗ trợ của 8 z Nhà nƣớc để giải quyết việc làm cho ngƣời lao động nông nghiệp trên địa bàn. Từ đó tác giả đƣa ra một số khuyến nghị giải quyết tốt hơn vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại huyện Từ Liêm. Đào tạo nghề phải gắn với thị trường lao động.
Báo điện tử Văn hiến. Bài viết đề cập việc hƣớng ĐTN gắn với thị trƣờng lao động, nhƣng chỉ mang tính chất gợi ý, tham khảo, mà chƣa đƣa ra các giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm hiện nay. Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn khác, với các cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực quản lý đào tạo nghề cũng đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Do vậy, đề tài: “Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang” là một đề tài mới, chƣa đƣợc nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống. Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý đào tạo nghề, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời gian tới. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Quản lý đƣợc định nghĩa là một công việc mà một ngƣời lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý đƣợc giải thích nhƣ là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, 9 z nhƣng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Nhƣ vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý. Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải quyết vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học. Xét trên phƣơng diện nghĩa của từ, quản lý thƣờng đƣợc hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phƣơng thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con ngƣời thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt. Quản lý theo định nghĩa của các trƣờng phái quản lý học Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trƣờng phái quản lý học đã đƣa ra những định nghĩa về quản lý nhƣ sau: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn ngƣời khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm ". - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. 10 z - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".
Dalark: "Định nghĩa quản lý phải đƣợc giới hạn bởi môi trƣờng bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Chủ trƣơng của Peter. Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp.
Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt đƣợc mục tiêu lý tƣởng là "một xã hội tự do và phát triển". Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển. Từ đó có thể thấy, cơ sở chính trong giải quyết độ khó của vấn đề là "quan điểm về hệ thống", cơ sở chính trong giải quyết độ khó về thời gian là "quan điểm về sự chuyển động”. Nhƣ vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F.
Dalark là cách nhìn hệ thống mở và chuyển động". Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tƣ tƣởng triết học về quản lý của ông. Tƣ tƣởng triết học về quản lý của Peter F. Dalark Quản lý doanh nghiệp phải theo nguyên tắc: "lấy hiệu quả kinh tế thực tế làm nguyên tắc hoạt động, đây là một cách nhìn tổng thể lấy thành tích làm cốt lõi".
Nguyên tắc quản lý dành cho giám đốc cần có động lực mạnh mẽ quản lý mục tiêu và kiểm soát bản thân để họ trở thành một ngƣời giám đốc giỏi.