Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm 1. Lao động Hiện nay, có khá nhiều các khái niệm về lao động, tiêu biểu có thể kể đến các khái niệm như: Theo Các Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”[1, tr26].
Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý nghĩa của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội. Các quốc gia khác nhau thì có cách tiếp cận không giống nhau về nguồn lao động. Có quốc gia coi nguồn lao động là toàn bộ người lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và dạng tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động vì những lý do khác nhau).
Một số quốc gia khác có nền kinh tế phát triển hơn thì lại cho rằng lực lượng lao động được giới hạn trong số những người đang tham gia lao động và những người có nhu cầu việc làm nhưng chưa tìm được việc làm, không bao gồm những người có khả năng làm việc nhưng không có nhu cầu tìm việc làm. Những nước khác nhau cũng có sự khác nhau về quy định độ tuổi lao động 8 e căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế của từng giai đoạn và sức khỏe người dân. Nhiều nước lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi, còn tuổi tối đa vẫn còn có sự khác nhau. Có nước quy định là 60, có nước là 65 thậm chí có nước là 70.
Đặc biệt ở Úc không có quy định về tuối nghỉ hưu nên không có giới hạn trên. Theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì: “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm” [8] Tại Việt Nam, theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 thì: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Lao động nông thôn Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn thành thị [14]. Nói đến nông thôn là nói đến nông dân, những người hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp.
Như vậy nông dân là tầng lớp đông đảo nhất sinh sống và làm việc ở nông thôn. Nông dân Việt Nam cũng như nông dân trên thế giới là lực lượng sản xuất trực tiếp ra lương thực, thực phẩm cho nhân loại, nhưng lại là những người rơi vào tình trạng thiếu đói. Theo nghĩa rộng thì nguồn lao động nông thôn là những người không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như: nông, lâm, ngư nghiệp công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác; và những người trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ 9 e tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất.
Theo nghĩa hẹp thì lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn có khả năng lao động và được giới hạn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (ở Việt Nam: nam từ 15 đến 60 và nữ từ 15 đến 55 tuổi) [25] Khái niệm về lao động nông thôn này có tính ưu việt là khống chế được sự lạm dụng lao động trẻ em (dưới 15) theo quy ước quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nền kinh tế còn kém phát triển, đời sống người dân còn khó khăn đặc biệt là ở nông thôn thì lao động trẻ em dưới 15 tuổi hoặc những người trên độ tuổi lao động tham gia lao động, sản xuất còn chiếm tỷ lệ khá lớn. Từ đó ta có thể thấy nguồn lao động ở nông thôn rất dồi dào. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nhưng đồng thời cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.
Đào tạo nghề Nghề là hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt sự phân công lao động xã hội với tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) và văn minh nhân loại, nó được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Nghề là phương tiện để sinh sống do đó lao động cần phải có kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì: “Đào tạo nghề là nhằm cung 10 e cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao” [6].
Theo đó, đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đưa ra khái niệm:“ Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. [25] Vậy, đào tạo nghề là nhằm tạo ra một nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. * Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: - Đào tạo nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường.
Mục tiêu của đào tạo nghề là đào tạo để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp. - Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. - Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi, trừ một số trường hợp khác pháp luật quy định. 11 e - Hình thức đào tạo nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Đào tạo nghề dài hạn; đào tạo nghề ngắn hạn; đào tạo nghề theo modul; đào tạo nghề kèm cặp; đào tạo nghề lưu động.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghềcho lao động nông thôn là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động nông thôn có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo. [13] Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện từ ba tháng đến dưới một năm đối với người có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong điều kiện phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển của đô thị ngày càng lớn, nhu cầu lao động chất lượng cao cũng tăng theo. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vừa đáp ứng yêu cầu của quá trình phân công lao động, vừa bổ sung cho sự giảm chất lượng nguồn lao động nông thôn do sự biến động nguồn lao động theo xu hướng đó.
Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn có những đặc điểm sau: - Đối tượng tham gia học nghề là LĐNT, chủ yếu chưa qua đào tạo, trình độ văn hóa không đều, các lớp học với nhiều đối tượng khác nhau như người nghèo, người tàn tật, người dân tộc., độ tuổi không đồng đều. - Ngành nghề đào tạo đa dạng; trình độ đào tạo là sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng hoặc trung cấp, cao đẳng nghề; phần lớn là các nghề đào tạo là nghề đơn giản, các nghề nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ; thời gian thực hành nghề chiếm tỷ lệ trên 80%. - Phương thức đào tạo chủ yếu là lưu động hoặc tập trung, đào tạo tại các thôn, bản, thời gian đào tạo linh hoạt theo nhu cầu của người học, theo 12 e mùa vụ tạo sự thuận lợi cho người học, phương pháp đào tạo chủ yếu là hướng dẫn thực hành và truyền nghề. - Kinh phí đào tạo chủ yếu do ngân sách nhà nước hỗ trợ, lao động nông thôn không phải đóng góp học phí, hoặc đóng ở mức thấp.