ĐẶT VẤN ĐỀ Khái niệm về ‘health literacy1 (tạm dịch là năng lực sức khỏe) xuất hiện lần đầu tiên có liên quan đến giáo dục ve sức khỏe ở Mỹ vào năm 1970 và dần nhận được sự quan tâm nhiều hon trong hai thập kỉ gân đây. Trên thê giới đã cỏ nhiêu nghiên cứu nhằm định nghĩa Năng lực sức khỏe. Cho đến hiện tại đã có 17 khái niệm khác nhau về năng lực sức khỏe. Các khái niệm này chủ yếu chỉ ra rằng năng lực sức khỏe bao gồm các năng lực của con người nhằm đáp ứng các nhu câu về sức khỏe trong xã hội hiện tại.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra ‘năng lực sức khỏe’ có vai trò quan trọng ảnh hưởng đen sức khỏe của người dân. Nhu cầu tìm hiểu về ‘năng lực sức khỏe’ đi đôi với việc nhu cầu đo lường ‘năng lực sức khỏe’ của người dân. Hiện đã có nhiều nghiên cứu với mục đích đo lường ‘năng lực sức khỏe’, với mỗi nghiên cứu lại sử dụng một bộ công cụ khác nhau. Tuy nhiên việc sừ dụng các bộ công cụ khác nhau như vậy cũng khiến cho việc so sánh số liệu giữa các nước gặp nhiều khó khăn.
Do đó, Điều tra Năng lực Sức khỏe Châu Âu được ra đời năm 2012 với việc phát triển một bộ công cụ chung nhằm đo lường Năng lực sức khỏe cùa các nước thành viên. Năm 2013, Điêu tra Năng lực Sức khỏe Châu Á được thực hiện dựa trên nền tảng của Điều tra Năng lực Sức khỏe Châu Âu, với một số chỉnh sửa về bộ công cụ. Tại Việt Nam, khái niệm về ‘năng lực sức khỏe’ vẫn còn khá mới lạ, mới chỉ được đề cập trong đào tạo về nâng cao sức khỏe nói chung. Với mục đích tìm hiểu rõ hon về ‘năng lực sức khỏe’ và các công cụ đo lường năng lực sức khỏe, nghiên cứu “Tổng quan tài liệu về Năng lực Sức khỏe và Đo lường Năng lực Sức khoe” được tiến hành.
Bài tổng quan tập trung chủ yếu vào các nội dung: khái niệm về năng lực sức khỏe, vai trò và sự ảnh hưởng của năng lực sức khỏe tói tình trạng sức khỏe người dân trên thể giới, và tìm hiểu về các bộ công cụ đo lường Năng lực Sức khỏe. 2 MỤC TIÊU Mục tiêu cụ thể: 1. Tìm hiểu khái niệm và vai trò của ‘năng lực sức khỏe’ tới sức khỏe cộng đồng. Tìm hiểu sự ảnh hường của ‘năng lực sức khỏe’ tới một số yếu tó cụ thể.
Tìm hiểu về một số bộ công cụ đo lường Năng lực sức khỏe trên thế giới và liên hệ Việt Nam. 3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 1. Phưoiìg pháp thu thập tài liệu Các trang web sừ dụng: Pubmed, WHO, Research Gate, Google Scholar. Từ khóa “health literacy”, “literacy”.
Các tài liệu được nhắc đến trong phần tài liệu tham khảo của các báo cáo tổng quan có độ tin cậy cao (của các tô chức, cơ quan, cá nhân CÓ uy tín). Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu về nội dung: Các tài liệu đề cập đến các nội dung liên quan đến năng lực sức khỏe: định nghĩa về ‘năng lực sức khỏe’, trình độ hiểu biết của người dân, các nội dung liên quan đến các yếu tố chịu ảnh hưởng cùa năng lực sức khòe. về loại tài liệu: Các báo cáo nghiên cứu, bài báo chuyên ngành, tài liệu hội nghị/hội thảo, sách liên quan đen nội dung. về nguồn của tài liệu: Chỉ sử dụng các tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy như báo cáo, nghiên cứu của các tổ chức có uy tín (các Viện nghiên cứu, các Cục, BYT, WHO, CDC.), bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nghiên cứu, luận văn của các cá nhân/tổ chức đã công bố/xuất bản.
về ngôn ngữ: Tiếng Anh (không có tài liệu tiếng Việt) về thời gian: Các báo cáo, nghiên cứu khoa học, tài liệu đăng báo/tạp chí, ưu tiên các tài liệu từ năm 2000 trờ lại đây. Quy trình tổng họp thông tin Đọc tóm tat của các bài báo/nghiên cứu viêt vê năng lực sức khỏe và các điêu tra vê năng lực sức khỏe của các nước nhằm nắm được các nội dung chính. Đối với các tạp chí, báo cáo có liên quan đến chủ đề, đọc lướt nội dung, các bảng biểu và kết luận để tìm hiểu các thông tin, so liệu cần cho quá trình viết tổng quan. Tổng hợp và phân loại thông tin từ các tài liệu tham khảo nhập vào máy tính, phân tích sâu vào các nội dung trong bài dựa trên các thông tin thu được.
Các tài liệu được nhập và quản lý bằng phần mềm quản lý tài liệu ENDNOTE X7 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tra cứu thông tin và thay đôi thứ tự tài liệu tham khảo. Nãng lực sức khỏe Health literacy là một thuật ngữ đã xuất hiện tù cách đây 40 năm, vào năm 1974. Tuy vậy, phải đến hai thập kỉ gần đây, vấn đề này mới dần được quan tâm hon, với nhiều công trình - nghiên cứu, luận văn, tổng quan V.- được thực hiện. Do còn mới, việc định nghĩa về health literacy vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn giữa các nghiên cứu.
“Điểm đặc biệt của ngành khoa học ngôn ngữ là tính lịch sử của nó: một ngôn ngữ hay một từ không chỉ còn là thứ được cho trước, mà là kết quả của quá trình phát triển trước đó và cũng đồng thời là điểm khởi đầu cho những thay đổi tiếp theo. ” [16] Có thể thấy, đề có thể hiểu được một cách đầy đủ và chính xác về health literacy, cần phải hiểu được gốc từ của khái niệm này - literacy - cũng như sự phát triển của nó theo thời gian. Literacy là gì Health literacy, khi dịch sang tiếng Việt sẽ được hiểu là ‘literacy’ trong chăm sóc sức khỏe (health). Do vậy, muốn hiểu được ‘health literacy’ là gì, cần phải hiểu được gốc từ của nó là ‘literacy’ là gì.
Theo từ điển Oxford, từ ‘literacy’ xuất hiện vào đầu thế kỉ 19, mang ý nghĩa là ‘khả năng đọc vả viết’, hoặc chi tiết hơn là ‘năng lực hoặc kiến thức về một công việc/một lĩnh vực cụ thể’. Tính theo thời gian xuất hiện, ‘literacy’ thuộc về nhỏm ‘Tiếng anh Hậu Hiện đại’ - bắt đầu từ cuộc Cách mạng Công nghiệp. Với tính chất còn mới mẻ như vậy, bàn thân nghĩa của từ cũng liên tục được thay đồi cho phù hợp với bối cảnh lịch sử và mục đích sử dụng. Ở thời kì đầu,Titeracy’được hiểu là ‘đọc nhiều’ hay rộng hơn là ‘có hiếu biết, được giáo dục, học hành cẩn thân’.
Đến cuối thể kỉ mười chín, từ này mang thêm nghĩa 5 chi khả năng đọc và viết[37].Tuy vậy, cùng với sự phát triển của lịch sự, sự thay đổi về văn hóa cũng dẫn đen sự thay đổi về định nghĩa của ‘literacy’. Xét trong bối cảnh nước Mỹ, trước Nội chiến, ‘literacy’ được nhận định bằng một hành động rất đơn giản: cá nhân có khả năng tự kí tên mình lên văn bản pháp lí thay vì gạch chéo vào phần kí tên. Từ giữa thế kỉ 19 cho đến giữa những năm 30 của thế kỉ 20, cục dân số Mỹ chỉ tìm hiểu xem các cá nhân (chủ yếu là nam giới da trắng) có khả năng đọc và viết bất kì ngôn ngữ nào không. Tuy vậy, thế kỉ 20 cũng là lúc bắt đầu xuất hiện các định nghĩa, khung khái niệm và đánh giá chi tiết hơn về lình vực này.
Lí do là các chuyên gia quân sự và lao động muốn tìm ra các điều kiện cần thiết ờ lao động để có thể hoàn thành công việc. Vào thời điểm này, ‘literacy’ được đánh giá dựa trên số năm học trong nhà trường cùa các cá nhân, với yêu cầu về số năm học ngày càng tăng lên: bắt đầu từ việc có ít nhất 3 năm học trên ghế nhà trường, lên bốn năm vào thập kỉ 40, và ngày càng tăng lên. Đến thập kỉ 70, yêu cầu về trình độ đòi hỏi các cá nhân phải hoàn thành cấp 3 và ngày nay, để có thê cạnh tranh được trong thị trường lao động, người lao động cần trải qua các chương trình đào tạo cao hơn. [26] Các bài kiềm tra được chuẩn hóa và diêm theo cấp lớp trở thành công cụ chính để đo lường ‘literacy’, với các kĩ năng đọc và viết cơ bản là các tiêu chuẩn chính được đo lường.
Tuy vậy, dần dần cách đo lường này nhận nhiều sự chì trích, do chúng không thể phản ánh đúng thực sự khả năng cùa người dân.Ket quả của Điều tra Quốc gia ve ‘Literacy’ của người Trưởng thành năm 1988 đã chỉ ra rằng khả năng của những người đã tốt nghiệp cấp 3 cao như mong muốn. Chỉ có từ 16-20% người trưởng thành đã tốt nghiệp trung học có kết quả ở cấp 1, và 33-38% đạt ở cấp 2, trong thang đo 5 câp. Kê cả trong những người đã hoàn thành 4 năm đại học chỉ có khoảng 50% đạt điểm tương đương với 2 cấp độ cao nhất là cấp 4 và cấp 5. [15] Điều này phản ánh hiện thực rằng việc hoàn thành cấp học cao hơn không đàm bào việc có trình độ ‘literacy’ cao.
6 Người ta nhận ra ràng ‘literacy’ không liên quan đển việc phân loại người dân thành 2 nhóm ‘biết chữ’ và ‘không biết chữ’. Điều đáng quan tâm là người dân sẽ làm gỉ với các tài liệu in và những kĩ năng này liên quan thế nào với các nhu cầu xã hội.[ 19] Có một ví dụ như sau: Theo như cách suy luận bấy giờ, có thể nói việc Johny không biết đọc cũng gần giống như Johny không biết nấu ăn. Johny có thể đọc được hướng dẫn cách tạo ra một bộ phát radio, nhưng không đọc được tiểu thuyết của Henry James, cũng giong như Johny có the rán trứng nhưng không biêt nâu Vịt quay Băc Kinh. Giống như với nấu ăn, biết nấu ăn không đồng nghĩa là có thể nấu tất cả các món, thì đối với kĩ năng đọc, biết đọc không đồng nghĩa với việc có thể đọc được tất cà các loại tài liệu, đặc biệt là tài liệu chuyên ngành.
Điều này, vô hình chung đã bỏ qua tính đa chiều của ‘literacy’. Cũng từ thời điểm này, ‘literacy’ bắt đầu được xem xét dưới nhiều góc nhìn hơn. Đen năm 2003, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp Quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về về ‘literacy’ như sau: Là khả năng xác định, hiểu, phiên giải, kiến tạo, giao tiếp, tính toán và sử dụng tài liệu viết và in liên quan đến các lĩnh vực khác nhau. Nó đòi hỏi một quát trình học hỏi liên tục để cho phép cá nhân đạt được các mục tiêu của mình, phát triển kiến thức và khả năng của họ, và để có thể tham gia một cách hoàn toàn vào cộng đồng của mình và xã hội nói chung (UNESCO, Tháng 6 2003, p.