phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tổ chức thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Chƣơng 3: Hoàn thiện tổ chức thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương đến năm 2020. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.
Luật thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về thuế Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Từ sự phân tích khái quát đó có thể cho thấy, thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội.
- Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế được chia thành: + Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp + Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên). + Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. - Căn cứ theo tính chất chuyển giao của thuế thì thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu: + Thuế gián thu là các sắc thuế mà người nộp thuế gián tiếp nộp thuế cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế. Đặc điểm cơ bản của thuế gián 10 thu là được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ để bán ra, ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế theo luật định sang người tiêu dùng qua cơ chế giá cả.
Ở nước ta, đó là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. + Thuế trực thu là các sắc thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập của các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế. Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế là một. Nó đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập của họ.
Ở đây không có hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu. Ở nước ta, đó là các sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Trong các loại thuế trực thu, thuế thu nhập cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu đối với ngân sách nhà nước. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vậy ta có khái niệm về thuế thu nhập cá nhân như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần”. Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau đây: 11 + Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. + Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…).
+ Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. + Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao.
+ Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao. + Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế.
Vai trò của thuế thu nhập cá nhân - Thuế TNCN là một công cụ phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của từng người, do đó đòi hỏi phải đảm bảo tính công bằng, cả công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang. Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều dọc có nghĩa là: người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp. Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều ngang có nghĩa là người có thu nhập và điều kiện hoàn cảnh như nhau thì mức nộp thuế phải như nhau và ngược lại, 12 người có thu nhập ngang nhau nhưng điều kiện gia cảnh sống khác nhau thì nộp thuế khác nhau.
Về lý luận, nếu chỉ có công bằng ngang thì vẫn chưa phải là sự công bằng hoàn hảo mà phải kết hợp giữa công bằng ngang và công bằng dọc. Điều đó có nghĩa là, người có thu nhập thì phải nộp thuế; người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp thì nộp thuế ít căn cứ vào biểu thuế luỹ tiến từng phần; người có thu nhập dưới mức chịu thuế thì không phải nộp thuế; người không có khả năng tạo thu nhập hoặc thu nhập quá thấp thì không những không phải nộp thuế mà còn được Nhà nước hỗ trợ thêm. Vai trò công bằng của thuế TNCN đòi hỏi cần phải được quán triệt xuyên suốt trong việc quy định các nội dung trong luật thuế như đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ, biểu thuế, miễn, giảm thuế và cả các quy định về chế tài nộp thuế. Đặc trưng quan trọng nhất của tính công bằng theo chiều dọc trong động viên thuế TNCN thể hiện qua việc áp dụng biểu thuế luỹ tiến.
Theo đánh giá của các nhà lý luận thì thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất, nó đảm bảo cho việc động viên thuế phù hợp với khả năng của người nộp, bởi vì mức thuế phải nộp sẽ tăng luỹ tiến cùng với mức tăng của thu nhập. Chính sách thuế TNCN hiện nay ở hầu hết quốc gia đều áp dụng phương pháp luỹ tiến. Vì vậy, khi xây dựng biểu thuế và thuế suất cũng cần đáp ứng được các yêu cầu về mặt kỹ thuật mang tính luỹ tiến. Nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến sự phân hóa giàu - nghèo trong xã hội.
Thông qua việc đánh thuế TNCN, ngân sách Nhà nước mới có điều kiện phân phối lại thu nhập trong xã hội, thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, tăng thu NSNN để có nguồn tài chính thực hiện chính sách chuyển nhượng thu nhập cho những người chịu thiệt thòi về thu nhập, thực hiện xoá đói giảm nghèo và các chính sách xã hội khác, trên cơ sở đó giảm tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, góp phần giữ ổn định và an sinh xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, người đã giàu lại càng có nhiều điều kiện để càng giàu thêm, còn người nghèo có nhiều khó khăn lại có nguy cơ ngày càng nghèo hơn. Thông qua biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế TNCN động viên mạnh những khoản thu nhập cao của tầng lớp khá giả. Có thể nói, điều hoà thu nhập xã 13 hội để từng bước đảm bảo công bằng về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp dân cư được xem là vai trò quan trọng nhất mà chính sách thuế TNCN đặt ra.
- Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN: Thuế TNCN là một loại thuế có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn, do đó cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn.