phần mở đầu, kết luận và đề nghị, nội dung nghiên cứu của luận án gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của học theo vấn đề. Chƣơng 2: Tổ chức hoạt động học theo vấn đề trong dạy học Sinh thái học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỌC THEO VẤN ĐỀ 1.
Khái niệm “Học theo vấn đề” (Problem-Based Learning) 1. Một số thuật ngữ cơ bản HTVĐ là một phƣơng pháp dạy học hay là một hình thức tổ chức dạy học? Câu hỏi này đến nay vẫn chƣa có câu trả lời đƣợc chấp nhận rộng rãi, vì có nhiều quan điểm khác nhau. Trƣớc hết, cần tìm hiểu quá trình sử dụng những thuật ngữ liên quan tới “Học theo vấn đề”. Ở nhiều nƣớc trên thế giới, các nhà giáo dục đã dùng các thuật ngữ sau: - Dạy học nêu vấn đề (Problem posing instructon).
- Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving instruction). - Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving instruction). - Dạy theo vấn đề (Problem-Based Instruction, viết tắt là PBI) hoặc Học theo vấn đề (Problem-Based Learning, viết tắt là PBL). * Dạy học n u vấn đề (Problem posing instruction) Ở Việt nam từ năm 1960, GV đã làm quen với thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề” (DHNVĐ).
Dùng thuật ngữ “Dạy học nêu vấn đề” có nghĩa là tập trung vào khâu nêu ra vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để tạo động lực tâm lý thu hút chú ý của học sinh vào nhiệm vụ nhận thức. Có ý kiến cho rằng dùng thuật ngữ “nêu vấn đề” là chƣa thành công vì có thể gây hiểu lầm là GV chỉ nêu ra vấn đề để HS tham gia giải quyết, do đó đề nghị thay “nêu vấn đề” bằng “gợi vấn đề” [27, tr. Thực ra DHNVĐ gồm hai phần cơ bản là nêu VĐ và GQVĐ, trong đó GQVĐ là một vấn đề khó và phụ thuộc nhiều vào nội dung, liên quan đến nhiều khoa học khác nhau [48, tr. Nét đặc trƣng của cách dạy học này là cần tập dƣợt cho học sinh biết phát hiện vấn đề, tự mình đặt ra vấn đề để giải quyết.
Có thể nói, trƣớc những năm 90 của thế kỷ XX, trong dạy học quen dùng thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”. Thuật ngữ này dùng trong giai đoạn mà xu thế chung là “đặt GV vào trung tâm của quá trình dạy học”, hơn nữa trong giai đoạn đó các nhà sƣ phạm quan tâm nhiều đến kỹ thuật tạo ra tình huống có vấn đề. 7 * Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving instruction) Dùng thuật ngữ “Dạy học giải quyết vấn đề” (DHGQVĐ) có nghĩa là nhấn mạnh khâu giải quyết vấn đề (GQVĐ) đặt ra, coi đây là khâu chủ yếu. Nếu HS đƣợc tham gia vào khâu này thì sẽ vừa nắm vững kiến thức, vừa nắm vững phƣơng pháp đi tới kiến thức đó để phát triển tƣ duy.
Cơ sở của DHGQVĐ là tình huống có vấn đề (THCVĐ). Đó là một trạng thái tâm lý xuất hiện ở ngƣời học khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức, đƣợc các em chú ý và ghi vào bộ nhớ vì nó lý thú và thỏa mãn nhu cầu nhƣng lại vƣợt ra khỏi giới hạn tri thức vốn có của ngƣời học, ngƣời học chƣa tìm đƣợc cách GQVĐ, do đó các em bị kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết và có động lực cho quá trình học tập một cách tích cực và tự giác [5, tr. * Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving instruction) Gần đây, một số nhà sƣ phạm dùng thuật ngữ “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” tức là coi trọng cả hai khâu tập dƣợt cho học sinh phát hiện vấn đề và GQVĐ gặp phải, đó là một năng lực cần có trong cuộc sống hiện đại. Việc tập dƣợt cho SV phát hiện, đặt ra và GQVĐ không chỉ thuộc vào phạm trù PPDH mà đã trở thành một mục tiêu dạy học, đảm bảo cho con ngƣời có khả năng thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại [27, tr.
* Học theo vấn đề Richard I. Arends trong sách Learning to teach tái bản lần thứ 4 đã dùng thuật ngữ “dạy học theo vấn đề” (Problem-Based Instruction, viết tắt là PBI) [100], gần đây, trong lần tái bản thứ 8, ông dùng thuật ngữ “Học theo vấn đề” (Problem-Based Learning, viết tắt là PBL) [101]. Tên khác của học theo vấn đề là: “học theo dự án” (Project based Learning); “học trong thực tế” (authentic learning) và “học theo phƣơng pháp móc nối” (anchored instruction). HTVĐ khác với dạy học truyền đạt của GV - phƣơng pháp mà ở đó GV giữ vai trò là chính.
Để thực hiện đƣợc HTVĐ thì GV phải đƣa ra VĐ, tạo ra THCVĐ 8 và hệ thống câu hỏi kèm theo để tạo điều kiện thuận lợi cho HS trong việc nhận thức, qua trao đổi về VĐ và qua định hƣớng của GV bằng các câu hỏi. Điều quan trọng nhất GV phải đƣa ra đƣợc khung nội dung cần truyền đạt nhờ đó giúp HS tự nhận thức và phát triển qua tranh luận. HTVĐ chỉ xảy ra khi GV tạo đƣợc không khí trao đổi trung thực, cởi mở trong lớp học. Trong một khía cạnh nào đó HTVĐ gần giống với PPDH bằng trao đổi (hỏi đáp).
Chú ý rằng HTVĐ tƣơng tự với dạy học hội thoại mà HS tự tìm thấy kiến thức thông qua sự tìm tòi của HS chứ không phải là do GV truyền đạt. Bằng phƣơng pháp này GV sẽ trình bày đƣợc các khía cạnh chi tiết cuả bài học. Theo chúng tôi, các thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”, “dạy học giải quyết vấn đề”, “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” hay “học theo vấn đề”,. là những cách gọi khác nhau của cùng một nội hàm với những cách tiếp cận khác nhau mang tính lịch sử.
Mỗi cách tiếp cận nhấn mạnh vào một khâu nào đó của quá trình phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề - kết luận. Trong luận án này, chúng tôi thống nhất dùng thuật ngữ “học theo vấn đề”. Tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về HTVĐ: Khi tìm hiểu về sự tham gia của ngƣời học vào các hoạt động HTVĐ, Terry Barrett đã xác định “HTVĐ là quá trình học tập mà kết quả thu được từ việc SV làm việc theo nhóm với VĐ”. Quá trình HTVĐ bao gồm việc trình bày VĐ, làm việc độc lập, chia sẻ và thảo luận, chuẩn bị và thuyết trình công việc của mình về VĐ [53].
Một số định nghĩa về HTVĐ tập trung vào vai trò của VĐ, nêu cao khả năng học tập chủ động, tự học tập và tự nghiên cứu của ngƣời học: - Barrows, Tamblyn. xác định “HTVĐ là việc học mà kết quả của quá trình làm việc hướng sự hiểu biết tới giải pháp của một VĐ. VĐ là điều gặp phải đầu tiên trong quá trình học tập” [56, pp. - Đại học Stanford định nghĩa “HTVĐ là một PPDH mà SV học bằng cách giải quyết các VĐ mở.
SV dựa vào kiến thức hiện tại về VĐ, xác định thông tin cần biết và những chiến lược có thể sử dụng để GQVĐ” [105]. HTVĐ không chỉ đƣợc hiểu là một PPDH mà còn liên quan đến chƣơng trình dạy học theo hƣớng tiếp cận ngƣời học làm trung tâm. Trên website của Đại học 9 Samford [60] có nêu định nghĩa của một số tác giả nhƣ Boud & Feletti: “HTVĐ là một phương pháp để cấu trúc lại các chương trình đào tạo liên quan đến việc SV đối mặt với các VĐ thực tế mà kích thích cho việc học tập”; Barrows & Kelson: “HTVĐ là cả một chương trình và một quá trình. Chương trình học bao gồm những VĐ được lựa chọn và thiết kế cẩn thận nhằm giúp người học tiếp nhận tri thức một cách có phê phán, tăng cường kỹ năng GQVĐ, khả năng tự học và kỹ năng làm việc nhóm; quá trình học có tính hệ thống như quá trình GQVĐ hoặc những thử thách có thể gặp trong đời sống”.
Khi Problem-Based Learning đƣợc dịch sang Tiếng Việt, do các cách tiếp cận và Việt hóa khác nhau nên đƣợc gọi bằng nhiều thuật ngữ: HTVĐ, học dựa trên VĐ, dạy học dựa trên GQVĐ,. Trong module Dạy học dựa trên GQVĐ, các tác giả đã định nghĩa HTVĐ (dạy học dựa trên GQVĐ) “là dạy học dựa trên các VĐ thực tiễn có liên quan đến người học và liên quan đến nội dung học tập đã được quy định trong “chuẩn kiến thức, kỹ năng”. Trên cơ sở đó, người học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống” [31, tr. Nhƣ vậy, các định nghĩa HTVĐ đã nêu đƣợc một số đặc điểm: - HTVĐ là việc học đƣợc tổ chức xung quanh việc điều tra và giải quyết các VĐ thế giới thực.
Các VĐ có liên quan đến thực tiễn đƣợc lựa chọn cẩn thận và đƣợc sử dụng làm nền tảng cho chƣơng trình học. - HTVĐ là hoạt động học tập trong bối cảnh thực tiễn nhằm cung cấp kỹ năng GQVĐ, tự học và làm việc nhóm. - HTVĐ là một cách tiếp cận tổng thể trong giáo dục, ở góc độ chƣơng trình học lẫn quá trình học. - HTVĐ giúp ngƣời học tiếp nhận tri thức, kỹ năng thông qua quá trình học - hỏi đƣợc thiết kế theo những câu hỏi, những VĐ và những nhiệm vụ thực tiễn.
Từ những phân tích về HTVĐ và từ định hƣớng đổi mới PPDH ở nƣớc ta chúng tôi cho rằng, HTVĐ thuộc mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, dựa vào việc sử dụng VĐ thực tiễn làm điểm khởi đầu cho sự thu nhận và tích hợp kiến thức mới, phát triển kỹ năng GQVĐ. Vấn đề - yếu tố thành công của học theo vấn đề 1. Khái niệm về vấn đề VĐ là một phạm trù đƣợc bàn đến trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.com, VĐ là bất kỳ câu hỏi hay một điều gì đó chứa đựng sự nghi ngờ, không chắc chắn, khó khăn, hoặc VĐ là một câu hỏi đƣợc đƣa ra để thảo luận hay tìm kiếm giải pháp. Theo Bristish dictionary, VĐ là bất kỳ điều gì, ngƣời nào đó gặp khó khăn phải giải quyết, khắc phục hoặc là một câu đố, câu hỏi thiết lập cho những giải pháp.
Trong Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê và cộng sự (1994), VĐ là điều cần đƣợc xem xét, nghiên cứu, giải quyết. Trong sinh hoạt, VĐ để chỉ bất kì một việc nào đó cần phải làm. Trong triết học, VĐ đƣợc xem là phạm trù logic biện chứng nhận thức từ cái đã biết đến cái chƣa biết.