Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giói thiệu về stress, lo âu, trầm cảm 1. Stress Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [29].
Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. - Theo Hans Selye: Stress là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với kích thích từ môi trường bên ngoài [11] - Theo J.Delay: Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể, buộc cơ thể phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe doạ. - Như vậy hiểu đầy đủ khái niệm về stress đó là đáp ứng cùa cơ thể trước tình huống stress. Trong đó tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay các kích thích gây ra stress, như vậy bao gồm cả môi trường bên trong lần bên ngoài cơ thể; đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress của cơ thể (các triệu chứng thực thể, tinh thần, suy nghĩ, hành vi.
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Đối tượng thu xếp được trạng thái cân bàng mới. Stress trở nên bệnh lý khi tình thuong stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vượt quá khả năng chịu đựng của đối tượng gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử [19]. Lo âu Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người, là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó.
Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù họp để tồn tại và phát triển [18], Lo âu sẽ là một vấn đề đối với SKTT khi nó xảy ra mơ hồ, vô lý, không liên quan đến bất kỳ một mối đe dọa nào hay là mức độ lo âu không tương xứng với các mối đe dọa và diễn ra trong thời gian dài. Khi đó lo âu gây trở ngại đến công việc, sinh hoạt và các mối quan hệ bình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn lo âu (RLLA) [17] 1. Trầm cảm Trầm cảm là một bệnh rối loạn cảm xúc biểu hiện ở khí sắc trầm tức là có trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán chường, u uất (sad mood), kéo dài ít nhất hai tuần lễ hay lâu hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cũng như cuộc sống thường ngày. Người bị trầm cảm thấy mất hứng thú đối với những hoạt động đã từng mang lại niềm vui thích cho bản thân, cảm thấy tuyệt vọng, bi quan, cảm thấy tội lỗi, vô tích sự, thiếu tự chủ và đặc biệt là có thể làm cho con người cảm thấy như thể cuộc sống là không đáng sống.
Trầm cảm có có thể xảy ra với bất kì ai, ở bất kì độ tuổi nào; ở mỗi đổi tượng khác nhau có những biểu hiện bệnh khác nhau [8]. Triệu chứng của stress Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. cỏ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hoặc là ngũ quên và những biểu hiện khó chịu khác. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ, hoặc sợ hãi.
Người bị stress thường có các biểu hiện thực thể là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi. Biểu hiện về cảm xúc là cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần.Có những hành vi như 8 lạm dụng chất kích thích (rượu, thuốc lá.), dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục.Stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong [5], [13]. Triệu chứng của RLLA Biểu hiện của RLLA có thể diễn ra một cách từ từ hoặc là đột ngột với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau. Có thể được nhận biết qua 2 nhóm biểu hiện sau: - Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý vào công việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng, hay giật mình, hay ghĩ đến những điều nguy hiểm xảy ra với mình, cảm thấy đầu óc mình trổng rỗng, cảm thấy điều gì đó xấu sẽ xảy ra với mình [9].
- Biểu hiện về triệu chứng cơ thể: Gồm các triệu chứng như: cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, khó chịu ở dạ dày hoặc cảm giác hoa mắt, chóng mặt, hay phải đi tiểu hoặc hay phải đi ngoài, thở nhanh và nông, run tay chân và co quắp tay chân, căng cơ, đau đầu, mệt mỏi và mất ngủ. Chính vì các triệu chứng này mà bệnh nhân dễ bị chẩn đoán nhầm với những bệnh lý khác và không được điều trị đúng chuyên khoa, hoặc phải mất thời gian dài mới có thể gặp được đúng thầy thuốc chuyên khoa tâm thần [9]. Triệu chứng của trầm cảm Các triệu chứng của trầm cảm hết sức đa dạng cả về thực thể, tâm thần và hành vi như: - Không chú ý đến diện mạo, áo quần lôi thôi, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy, giọng nói trầm buồn, đơn điệu. - Lo âu thường xuyên cùng với sự sợ hãi lan rộng không rõ nguyên do.
- Rối loạn chức năng sinh dục: Giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái, có thể yếu hoặc mất chức năng cương cứng ở nam giới, lãnh cảm ở phụ nữ. 9 - Các biểu hiện có thể khác của bệnh trầm cảm là cảm giác do dự, không chắc chắn, tiêu chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình, dê bị tổn thương, khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng, không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì. Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân và người khác, cảm giác tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai. Khi bệnh đến độ trầm trọng, người bệnh trở nên chán nản, tuyệt vọng đến nỗi họ dường như muốn chết hơn là muốn sống, thậm chí có ý định hoặc hành vi tự tử.
- Ngoài ra còn có các biểu hiện thân thể khác đi kèm như kém ăn, mất cảm giác ngon miệng, mất ngủ, tăng hay giảm cân nặng bất thường, thường có cảm giác đau nhức nhiều vùng ở cơ thể, điển hình là cảm giác tức ngực điều này khiến bệnh nhân thường tìm đến các bác sĩ đa khoa. - Đối với những người bệnh nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới [18], [17]. Hậu quả Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm không những tác động xấu cho cá nhân mà còn ảnh hưởng bất lợi cho người xung quanh và xã hội nói chung. Sau đây là những tác động chính mà chúng có thể gây ra: Chúng được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như: - Bệnh tâm thần kinh: Mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ,.
- Bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực. - Các bệnh về da, ví dụ như mụn sưng đỏ, phồng rộp lên hay là bệnh zona. Da dễ bị mẩn ngứa, phát ban, chàm. hay các chứng bệnh về da có tính kinh niên, mãn tính rất khó chữa trị.
10 - Bệnh tiêu hóa: Viêm loét dạ dày- tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng. - Bệnh tình dục: Giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, xuất tinh sớm. - Bệnh phụ khoa: Rổi loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết. - Bệnh cơ khớp: Co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy.
- Toàn thân: Suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay truyền nhiễm [5]. Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm còn gây nên các thay đổi vê hành vi, mà phổ biến là việc lạm dụng rượu bia, thuốc lá, chất gây nghiện. Điều này càng làm suy giảm đáng kể tình trạng thể chất, đồng thời làm tinh thần thêm bấn loạn dẫn đến các mối quan hệ cá nhân căng thẳng, cả trong gia đình lẫn nơi làm việc. Nếu không được chữa trị kịp thời thì người bệnh sẽ mất dần sự tự tin, mất khả năng đưa ra các quyết định chính xác và xuất hiện các hành vi bất thường.
Từ đó dẫn đến việc bị đồng nghiệp, bạn bè và người thân xa lánh, hoặc gây ra các tổn thất về tài chính, vật chất, thậm chí xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và những người xung quanh [13]. Đối với xã hội, các vấn đề SKTT này gây nên gánh nặng về kinh tế thông qua chi phí cho việc chữa trị bệnh, thiệt hại do nghỉ việc, bỏ việc, mất việc, giảm năng suất lao động.; là một trong những nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ ly hôn và tự sát trong cộng đồng. Ngoài ra, những người có vấn đề về SKTT ở mức độ nặng còn là mối nguy hiểm cho cả cộng đồng bởi với những hành vi bất thường không thể lường trước được [17].