Chương 1: Phân tích lịch sử và sự thay đổi của các làng ven sông Tô Lịch như một bộ phận cấu thành của không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Chương 2: Tìm hiểu hệ thống các vị thần được thờ trong không gian tín ngưỡng hai bên sông Tô Lịch. Chương 3: Phân tích các đặc trưng trong hoạt động thờ cúng thần linh ở các làng ven sông Tô Lịch và sự biến đổi, qua đó góp phần tìm hiểu dấu tích của văn hóa Thăng Long và đời sống tín ngưỡng của người dân các làng ven con sông lịch sử này. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CÁC LÀNG VEN SÔNG TÔ LỊCH TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA THĂNG LONG – HÀ NỘI Nói đến Thăng Long - Hà Nội, không thể không nhắc đến tính chất “thành phố trong sông”.
Sông hồ đã trở thành một nét đặc trưng nổi bật trong cảnh quan địa lý tự nhiên. Dòng sông Tô Lịch không chỉ là nơi ghi dấu các sự kiện lịch sử của dân tộc mà còn gắn bó mật thiết với đời sống của nhân dân các làng ven sông cả về yếu tố kinh tế và tín ngưỡng. Sông Tô Lịch trong lịch sử 1. Tên gọi sông Tô Lịch Tên sông Tô Lịch có nguồn gốc từ đâu? Theo sách “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên thì Tô Lịch là tên một vị thủ lĩnh.
Tô Lịch có nhiều công với dân làng nên khi ông mất, làng Hà Nội gốc được mang tên ông, rồi được phong là Long Đỗ Thần hay Tô Lịch Giang Thần. Có thuyết nói rằng: Vào năm 864-873, Cao Biền làm Tĩnh hải Vương quân Tiết độ sứ An Nam Đô hộ phủ, đóng quân ở vùng đất Phật Tích. Một hôm, Cao Biền đi du ngoạn, xem phong thủy có gặp một ông già tóc bạc hình dáng kỳ dị từ dưới lòng sông bước lên. Cao Biền liền đón hỏi và ông già trả lời: “Lão phu họ Tô, tên Lịch, quê ở gần đây” rồi phút chốc biến mất.
Cao Biền biết đây là Thần sông và đặt tên là sông Tô Lịch, cho lập đền thờ. Một thuyết khác kể lại rằng: Thành Đại La ngày xưa được xây dựng tên phần đất cửa làng Long Đỗ nằm bên bờ sông nhỏ chảy ra sông Cái (Sông Hồng). Tương truyền, xưa kia trong làng có gia đình họ Tô từ nhiều đời này luôn luôn có ba thế hệ cùng ở chung với một nếp nhà, nhưng do chăm chỉ làm ăn lại biết trên kính dưới nhường, nên chẳng hề xảy ra chuyện gì to tiếng. Đối với dân làng, họ cũng đối xử khoan dung và làm nhiều việc nhân nghĩa, nên được mọi người kính nể.
Sang đến đời Tô Lịch, trong nhà vẫn luôn luôn êm ấm, thuận hòa. Còn đối với dân làng, những khi giáp hạt hoặc những năm mất mùa, họ sẵn sàng bỏ thóc gạo ra cứu trợ người nghèo hoặc cho dân làng vay không lấy lãi. Vì thế lại càng được mọi người mến phục. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời ấy, Giao Châu đang bị nhà Tấn cai trị (264 - 420).
Nhà Tấn có lệ đề cử nhưng người hiền đức, hiếu nghĩa và các chức vị ở địa phương nên người anh cả Tô Lịch được chức vụ Long Đỗ. “Vương họ Tô tên Lịch, làm quan Lệnh ở Long độ. Tiên tổ ở đất này lâu đời, dựng làng ở trên bờ một con sông nhỏ, nhà thanh bạch lấy hiếu thuận làm đầu, ba đời cùng nhân nhượng không ở riêng biệt. Trong đời Tấn, xét những nhà có hiếu, nhà Vương được ban khen.
Gặp năm mất mùa đói kém, có hiếu vua cho nhà Vương vay thóc. Nhân thế lấy hai chữ Tô Lịch đặt tên làng” [156, tr. 69] Vua Lý Thái Tổ, sau khi dời đô ra thành Đại La, đổi tên là Thăng Long (năm 1010), thường mộng thấy một ông già đầu bạc, đứng trước bệ vái chào hô vạn tuế. Vua hỏi tên, ông cụ tâu rõ.
Vua cười nói “Tôn thần muốn giữ hương lửa tới trăm năm sao?”. Ông cụ thưa rằng: “Chỉ mong thánh thọ dài lâu, cơ đồ bền vững, trong triều ngoài quận lúc nào cũng yên vui thì chúng tôi giữ được hương lửa chẳng những trăm năm mà thôi”. Vua tỉnh dậy, sai quân đến tế, phong làm “Quốc đô Thăng Long Thành hoàng đại vương”. Từ đó, dân cư trong thành đến lễ cầu đảo, thề ước, đều thấy linh ứng.
Năm Trùng Hưng thứ nhất sắc phong hai chữ “bảo quốc”, năm thứ tư thêm hai chữ Hiển Linh, năm Hưng Long 21 gia phong hai chữ “định bang” [156, tr. 31,32] Sông Tô Lịch còn có nhiều tên khác như: Lai Tô, Lương Bái, Địa Bảo. Trong các tên đó có tên do dân gian đặt, có tên do phong kiến xâm lược phương Bắc áp đặt nhưng tên Tô Lịch đã đi vào lịch sử, âm vang lên từ thế kỷ thứ 6 khi Lý Nam Đế dùng tre gỗ đắp thành Tô Lịch đánh quân Lương, xưng đế lập quốc hiệu là nước Vạn Xuân. Cái tên ấy đã đi vào những áng sử, vào thơ ca sống mãi với Kinh đô Thăng Long chung thủy như một lời thề lứa đôi: “Bao giờ lở núi Tản Viên Cạn sông Tô Lịch chẳng quyên lời nguyền” 1.
Giới hạn địa lý của sông Tô Lịch Sông Tô Lịch trước thế kỉ thứ XI có nguồn vào là Cửa Thiên Phù (Bắc Hồ Tây), còn Giang Khẩu (phía Chợ Gạo) là cửa ra của một nhánh sông Tô. Về mùa mưa lũ, nước trong đồng đổ dồn vào sông Tô và thường cao hơn nước sông Hồng nên gọi là sông “nghịch thủy”. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sông Tô Lịch khởi nguồn có chiều dài khoảng 30km, bắt đầu từ sông Hồng, cửa Hà Khẩu chảy qua 36 phố phường Hà Nội. Tuy nhiên, đoạn sông chảy qua qua 36 phố phường đã bị thực dân Pháp lấp năm 1884 - 1886.
Cũng từ đây, sông Tô chảy theo phố Thụy Khuê, lên Bưởi, nghĩa là chảy ngược lên phía bắc rồi từ Bưởi lại chảy xuôi về phía nam theo đường Láng, đường Kim Giang về Thanh Trì, cuối cùng chảy qua cạnh hồ Linh Đàm, thông với hồ Yên Sở và hợp với sông Nhuệ ở nơi đối diện làng Hữu Từ (nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì) rồi đổ ra sông Hồng. Hồ Linh Đàm cũng là dấu tích của sông Tô, giống như hồ Tây là dấu tích sông Hồng. “Sông Tô nước chảy quanh co Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya” Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi, nay đã bị lấp, chỉ còn lại một vài dấu tích như ở mặt sau của tòa nhà Golden West Lake và một khu dân cư nhỏ ở gần chợ Tam Đa – Thụy Khuê. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình: từ Cầu Gỗ ngược lên Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay).
Đoạn sông còn lộ thiên ở Thụy Khuê đó còn được gọi là mương Thụy Khuê, nối từ cống Đõ chạy tới cống ngầm dưới lòng chợ Bưởi rồi đổ ra sông Tô Lịch ngày nay. “Từ cửa sông thuộc thôn Hương Bài (nay là khu vực ngã ba phố Chợ Gạo - Trần Nhật Duật) dòng Tô chảy theo hướng đông - tây qua các phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Cá, Hàng Lược vòng theo phố Quán Thánh lên Thụy Khuê. Đây chính là đoạn mà thực dân Pháp đã cho lấp để mở phố. Nay coi như sông Tô có nguồn từ đầu làng Thụy Khuê, chỗ vườn ươm trước mặt trường phổ thông trung học Chu Văn An, vẫn chảy theo hướng đông - tây, đến chợ Bưởi thì vòng về phía nam, thẳng xuống Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, rồi vòng vèo trên 20 km qua các xã Nhân Mục, Đại Kim, Thanh Liệt, Tam Hiệp, Ngọc Hồi, Đông Mỹ (đều thuộc huyện Thanh Trì) là hết địa phận Hà Nội.
Từ Đông Mỹ, sông Tô chuyển sang phía tây, độ 10km thì nhập vào sông Nhuệ ở làng Hà Liễu (huyện Thường Tín). Trên đường đi đó, sông Tô 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chảy qua bao vùng đất lịch sử: Cầu Giấy hai lần chứng kiến hai sĩ quan chỉ huy tối cao cùng vô vàn lính Pháp xâm lược phải đền tội vào hai năm 1873 và 1882. Cầu Mọc (gần Ngã Tư Sở) là nơi hai lần giặc Minh bị nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt vào cuối năm 1426. Rồi Đại Kim là quê hương danh nho Nguyễn Văn Siêu, Thanh Liệt là đất tổ của nhà sư phạm đạo cao đức trọng Chu Văn An.
Ngọc Hồi là nơi nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan đồn lũy vững mạnh vào loại nhất của quân Thanh vào sáng ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789)” [81, tr. Như vậy, sông Tô Lịch là một cạnh của “tứ giác nước Thăng Long” (theo cách nói của cố GS Trần Quốc Vượng). Tô Lịch vốn từng là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ thượng lưu ở sông Hồng sang sông Nhuệ. Đến đoạn trung lưu, nó gặp hồ Tây (là dấu tích của đoạn sông Hồng cũ, nằm cạnh Quán Thánh) và một phần nước từ hồ Tây được cung cấp cho đoạn sông từ đó đến hạ lưu.
Sông Tô Lịch còn lại ngày nay bắt đầu từ Cầu Giấy, chảy cùng hướng với đường Láng và đường Kim Giang về phía Nam tới sông Nhuệ. Như vậy, qua biến thiên của lịch sử thì sông Tô Lịch ngày nay đã có sự biến đổi khá nhiều về giới hạn địa lý và không còn thông với sông Hồng hay Hồ Tây nữa. Vai trò sông Tô Lịch trong lịch sử Với hệ thống sông hồ dày đặc, kinh thành Thăng Long xưa không những có được một lợi thế trong giao thương buôn bán với các vùng đất khác, mà còn có được một hệ thống phòng thủ tự nhiên hết sức lợi hại để chống lại sự xâm lược của ngoại bang phương Bắc. Trong quy hoạch hệ thống thành lũy của Thăng Long, qua nhiều triều đại, sông Tô Lịch giữ vai trò là một con hào tự nhiên, có vị trí trọng yếu, giữ nhiệm vụ bảo vệ cho kinh thành ở mạn bắc, mạn tây.
Sông Tô Lịch là nơi ghi dấu rất nhiều các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Đây là nơi lưu giữ dấu tích của Lý Nam Đế, người anh hùng chống xâm lược đã lập ra nước Vạn Xuân - nhà nước độc lập đầu tiên, đóng đô trên đất Hà Nội cổ (năm 545), tức là trước khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra gần 500 năm. Chính Lý Nam Đế là người đã nhìn thấy tầm chiến lược lâu dài của vùng đất Hà Nội cổ bên sông Tô trong việc mở nước nên đã đi 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.