mở đầu, kết luận, nội dung của bài luận văn gồm 2 chƣơng với 4 tiết và các tiểu kết chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1. Khái lƣợc chung về lễ hội thờ Thánh gióng và đời sống tinh thần của ngƣời dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay (2 tiết). Những biểu hiện vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng trong đời sống tinh thần của ngƣời dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay và một số khuyến nghị (2 tiết).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN HUYỆN SÓC SƠN - HÀ NỘI 1. Khái lƣợc chung về lễ hội thờ Thánh Gióng 1. Khái niệm lễ hội truyền thống Từ thời nguyên thuỷ khi biết làm ăn kiếm sống loài ngƣời đã biết diễn đạt niềm vui đƣợc mùa và cuộc sống đƣợc cải thiện bằng nhiều hình thức khác nhau.
Sau khi săn bắn và hái lƣợm trở về họ đứng xung quanh đống lửa vừa chia nhau thành quả lao động vừa nhảy múa vui hát. Để diễn tả lòng vui sƣớng đƣợc hƣởng kết quả lao động loài ngƣời khi ấy không chỉ dừng lại ở chỗ đời sống vật chất đƣợc đáp ứng mà còn nâng lên một bƣớc nữa tới nhu cầu đƣợc thoả mãn về đời sống tinh thần. Đó chính là hình thức lễ hội sớm nhất của loài ngƣời. Rồi hết đời này qua đời khác, bao nhiêu thời gian đã trôi qua những hình thức lễ hội nguyên thuỷ đƣợc lƣu truyền mãi qua các đời.
Ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ dân tộc nào, vào bất kỳ mùa nào cũng có những ngày lễ hội. Lễ hội đã tạo nên “Tấm thảm muôn màu. Mọi sự vật ở đó đều đan quện vào nhau, linh thiêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và đoàn kết, trí tuệ và bản năng” [51;12]. Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự đổi thay nhiều mặt của đất nƣớc, Lễ hội Việt Nam với tƣ cách là một thành tố cấu thành của văn hoá Việt Nam cũng đang có sự biến đổi về nội dung và hình thức.
Những lễ hội truyền thống tiếp tục đƣợc duy trì và mở rộng. Những lễ hội cổ truyền ở một số làng quê bị quên lãng trong một thời gian dài đƣợc làm sống dậy cùng với danh hiệu làng văn hóa đƣợc Bộ Văn Hoá Thông Tin trao tặng cho các làng này. Bên cạnh những lễ hội truyền thống, những hình thức mới chứa đựng những nội dung mới của hoạt động lễ hội đang diễn ra biến động và từng bƣớc định hình trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện mới đó là các lễ hội hiện đại - lễ hội du lịch, lễ hội văn hoá - thể thao - các ngày kỉ niệm…đang ngày càng mở rộng với nhiều quy mô, mức độ và nội dung phong phú đa dạng, sinh động không dễ dàng thẩm định và kiểm soát. Những lễ hội mới mang màu sắc hiện đại đƣợc tạo dựng một cách hoành tráng, gắn với du lịch, văn hoá của những vùng đất nhƣ: Lễ hội hoa Đà Lạt, Lễ hội kỉ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Lễ hội Di sản Miền Trung…Tất cả đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tìm cách khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu đặt ra.
Lễ hội là hình thức sinh hoạt cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cƣ trong thời gian, không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hoá của con ngƣời với tự nhiên, thần thánh và con ngƣời trong xã hội mới. Tác giả Dƣơng Văn Sáu, trong cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cƣ trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngƣời với thiên nhiên - thần thánh và con ngƣời trong xã hội”[45;35]. Trần Quốc Vƣợng khi giải thích về lễ hội thì lại gắn với nền văn hoá trồng lúa của ngƣời Việt khi ông quan niệm lễ hội chính là lễ hội nông nghiệp. Lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp nhƣ lễ hội “Lồng Tồng” của ngƣời Tày, lễ tế Thần Nông, lễ hạ điền (xuống đồng của ngƣời Mƣờng), lễ hội thƣợng điền của ngƣời Việt – mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hái nấm ở rừng, ở bụi bao gồm cả những hội đền, hội phủ, hội chùa, hội đình…Tất cả chúng đều đƣợc gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không gian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất chu kì).
Chủ nhân của những lễ hội này phần lớn là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống ở vùng quê và có lối sống thôn dã. Bản sắc văn hoá Việt Nam đƣợc thể hiện đậm nét nhất ở văn hoá làng. Lễ hội cổ truyền là sinh hoạt văn hoá điển hình của văn hoá dân gian truyền thống – thành tố làm nên bản sắc văn hoá làng đó. Thực vậy, với nền văn minh lúa nƣớc lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền Việt Nam xuất phát từ đó với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo.
Lễ hội chính là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hoá. Và ở Việt Nam, đó là nền văn hoá nông nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngƣỡng phồn thực trong nông nghiệp của dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mƣa thuận gió hoà cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Thông thƣờng ở Việt Nam những lễ hội có từ trƣớc 1945 đƣợc gọi là lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian, truyền thống.
Những lễ hội ra đời từ sau 1945 đƣợc gọi là lễ hội hiện đại, lễ hội này đã và đang trở thành hoạt động văn hoá thƣờng niên ở các cộng đồng dân cƣ. Bản chất và nội dung của lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng bởi đây là hoạt động văn hoá tập thể thuộc về tập thể và do tập thể tổ chức và tiến hành. Dù ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành. Chính họ là những ngƣời sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu.
Họ là chủ nhân đồng thời là ngƣời đánh giá thẩm định và hƣởng thụ những thành quả sáng tạo văn hoá ấy. Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm ngƣời nào đó trong xã hội. Không có đông ngƣời đến dự không thành hội, bởi thế mới có câu “đông nhƣ hội” chính là vậy. Mục đích lễ hội là một hoạt động văn hoá nổi bật trong đời sống con ngƣời với nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ lợi ích của con ngƣời.
Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh khôn ngoan cuả con ngƣời đối với sức mạnh vô hình hoặc hữu hình mà họ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không lý giải đƣợc nhƣng muốn khống chế - họ phải kính và sợ. Chính vì thế lễ hội trở thành một hiện tƣợng văn hoá tổng hợp, giúp giải phóng năng lƣợng tâm linh, tâm lý, vật chất của con ngƣời. Lễ hội chính vì thế có tính chất tái tạo, con ngƣời hiến dâng để cầu xin tốt lành trong tƣơng lai và hƣởng thụ vật chất và tinh thần thoải mái trong hiện tại. Lễ hội là cách thức giao cảm cộng đồng, giao hoà giữa con ngƣời với trời đất, giữa hiện tại với hồi tƣởng trong quá khứ và hi vọng tƣơng lai.
Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ, tức là phần nghi lễ vì nhu cầu tâm linh rất lớn Lễ hội truyền thống nay phần hội đƣợc nhấn mạnh nhiều hơn vì từ nhu cầu tâm linh giờ đã chuyển sang giải quyết nhu cầu đƣợc vui chơi, sống lại không khí dân dã của những trò chơi dân gian xƣa, không khí tƣng bừng náo nhiệt hơn. Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con ngƣời. Lễ hội bao giờ cũng hƣớng tới một đối tƣợng Thiên nhiên cần suy tôn: các vị tiên, Phật, thần thánh, những vị Nhiên thần và Nhân thần mà xét đến cội rễ thì đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng có công khai phá và xây dựng, những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những ngƣời có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu ngƣời hoặc những đấng thiên nhiên giúp con ngƣời hƣớng thiện, tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui. Lễ hội truyền thống chính là dịp để con ngƣời giao lƣu, cộng cảm và trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ tục và khát vọng cao đẹp, còn là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêu quê hƣơng đất nƣớc cùng niềm tự hào về gốc gác cuả mình.
“Dù ai đi ngƣợc về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mồng mƣời tháng ba”. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống bao giờ cũng có sức thu hút, mời gọi kì lạ đối với nhiều ngƣời, nhiều lứa tuổi. Ngƣời đến với lễ hội là đến với chốn linh thiêng cao cả, với tâm thức chân thành và thanh thản với khát vọng, ƣớc mong tốt lành. Cái không gian trầm lặng, tôn nghiêm của những ngôi đình mái cong, ngôi chùa rêu phong, ngôi đền cổ kính dƣới những tán cổ thụ bỗng sáng lên tƣng bừng, rộn rịp bởi những sắc màu của cờ hoa, quạt, kiệu, tán lọng và những âm thanh của hàng loạt nhạc khí, lời ca và những nhịp điệu uyển chuyển…Nhƣng yếu tố là nên sự sống động của lễ hội nhất là sự hội tụ của hàng ngàn, hàng vạn ngƣời quy tụ về đây vui với tiền nhân.
Không gian lộng lẫy uy nghi tạo nên chất hoành tráng và thiêng liêng của lễ hội, có sự khơi dậy cái thiện và mỹ trong tâm hồn mỗi ngƣời, thôi thúc họ vƣơn lên một lý tƣởng sống cao đẹp và giàu ý nghĩa hơn.