CHƯƠNG 1 TONG QUAN CAC VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Những van dé chung về biển và dai dương Trong nhận thức của nhãn loại vẻ thể giới ngày nay, khái niệm biển đã thay đổi rat nhiều so với trước đây. Ngày trước, con người luôn sợ hãi và bat lực trước những mỗi de dọa của song gió, bão tế, vẻ độ sâu ghê gớm và không gian quá rộng của biển. Ngược lai, ngày nay con người lại thay biển có đây tiém năng cho sự phát triển, biển là kho tang võ cùng quý giá mà cả thé giới đang tìm mọi cách để vươn ra biển để tận dụng tôi da nguồn lợi ích của biển; con người đang làm một cuộc cách mạng về biển để sinh ton và phat triển, — Biển va đại dương chiếm 71% diện tích bẻ mat trải đất (361 triệu km2/510 triệu km).
Trên thé giới có4 đại dương là: — Thái Binh Dương - đại đương lớn nhất chiếm khoảng 50% ~ Đại Tây Dương chiếm 25% — Án Độ Dương chiém 21% — Bắc Băng Dương chiếm 4% ( % tính theo diện tích đại đương). Hộ sâu trung hình của đại dương la 3.800m, day đại dương thường có một lớp vỏ đại dương day trung hình 4.5 km, cầu tạo bởi một lớp tram tích móng. bên dưới là một lớp bazan dày một vài km rồi tới một lớp peridotit day khoảng 4 km, Theo các nhà nghiên cửu biển va đại đương thì hiện nay lượng nước trên trái đất có tổng khỏi lượng khoảng 1,5 ti km”. Trong đó khối lượng nước chứa ở các sông hồ trên trải dat là 0,5 triệu km”.
Khdi nước không 16 ấy hap thụ 1⁄4 năng lượng mặt trời, Trang 5 làm bốc hơi khoảng 1.500 tỉ m”/ngày rồi biến thành mưa cung cap nước ngọt cho hành tinh chúng ta, nếu không trái đất chỉ là bãi sa mạc khô cản, hoang vãng. Trong nước bien va đáy biến chửa khoảng hàng nghìn tỷ tan kim loại và khoảng 135 tỉ tắn dâu mỏ ở thêm lục địa, 180.000 loài động vật, 10.000 loài thực vật, nên biển va đại dương là một kho tầng không lễ và quý giá của loải người, đã và đang được tiếp tục khai thắc với hiệu quả ngày càng lớn theo sự phat triển không ngừng của khoa học - kỹ thuật khai thắc biển. Các cường quốc đều là các quốc gia có biển (Mĩ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Nhật) và ngược lại, các nước có bien đều có điêu kiện để trở thành các nước có nên kinh tế và quan sự mạnh. Biển ngày càng có ý nghĩa song côn đối với mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi quan hệ giữa đất liên với biển khơi ngay cảng được khang định là một khối thong nhất không thé tách rời, không thé xem nhẹ phan nao và ngày cảng được tận dụng, khai thác triệt để.
Chính vì lẽ đá ma biển đã được xác định la hướng phòng thủ chiến lược của nhiều quốc gia có hiển. Biển là không gian sinh tổn, là nguồn sống, nguồn hi vọng tương lai của loài người. Do dé cả thé giới đã và đang chạy đua ra biển (bằng ca kinh tế và quân sy) nhãm tận dụng thé mạnh của biển và khai thác mọi lợi ích và tài nguyên của biển. Chiến lược khai thác biển đã trở thành chiến lược vươn lên của nhiều quốc gia đang phát triển, chiến lược để giàu mạnh của nhiều nước.
Tiểm năng vả triển vọng phát triển của biển cũng là một trong những nguồn gốc chính tạo ra những cuộc tranh chấp, xung đột gay gat để giành giật chủ quyền và tạo lập thé lực kinh tế - chính trị, quan sự trên biển (tranh chap Nga - Nhật vé quần đảo cu- rin; Anh — Achentina về quản đảo Man-vi-nát; tranh chap vùng biển, hải đảo trên biển Đông và Vịnh Thái Lan giữa các nước trong khu vực). Có nước cực đoan ¥ vào một SỐ thể mạnh nhất định, đã và đang xúc tiền thực hiện tham vọng giành quyên bá chủ khu Trang 6 vực, âm mưu mở rộng lãnh thổ ra biển bằng cách cưỡng đoạt, tranh giành, lẫn chiếm hoặc thực hiện mọi hành động thực hiện cho một ý đỗ chiến lược lâu dai nhằm thôn tính vùng biển, hải đảo của nước khác. Xu hướng này hét sức nguy hiểm, thực sự mang tính chất cướp đoạt và xâm lược đe dọa an ninh và chủ quyên quốc gia của cắc nước khác vào bat kì lúc nào - Đó là một nguy cơ ma các nước có biển còn bị hạn chế về tiểm lực kinh tế, quốc phòng lo ngại. Năm 1958, dé gai quyết những mâu thuẫn tốn dong từ lâu vẻ biến giữa các quốc gia, dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, hội nghị Luật biển lan thứ nhất đã được triệu tap tại Giơ-ne-vơ với 86 nước tham gia.
Kết quả là hội nghị đã thông qua được 4 công ước riêng rẽ thuộc 4 lĩnh vực trong rat nhiều lĩnh vực liên quan tới biển va đại dương, đỏ là: — Công ước vẻ lãnh hải và vùng tiếp giáp. — Công ước vẻ vùng biến cả. ~ Công ước về thêm lục địa. — Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển cả.
Tại hội nghị, các cường quốc về biển như Anh, Mỹ đều không muốn thay đổi chiều rộng lãnh hải 3 hải lý (1 hải lý = 1852m), nên mặc dù các Công ước đã đưa ra được những quy định vẻ thiết lập đường cơ sở thing, vẻ lãnh hải, vùng tiếp giáp để kiểm soát hải quan, thuế khóa, nhập cư, vệ sinh dịch tế và quyển đi qua không gay hai., nhưng một số van dé cơ bản vẫn chưa được giải quyết - đó là việc thống nhất vẻ chiéu rộng lãnh hải, vẻ quyền di qua các co biển quốc tế: các giới hạn vùng đánh ca va ranh giới ngoài thẻm lục địa. Năm 1960 cũng tại Giơ-ne-vơ, hội nghị luật hiển lan thử hai được triệu tập dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc. Hội nghị lan này với mục dich là giải quyết các ton đọng mà ở hội nghị luật biển lẫn thứ nhất chưa giải quyết được, Một số nước dé nghị Trang 7 quy định chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý. Một số nước khác như Mỹ, Canada đẻ nghị quy định chiều rộng lãnh hải là 6 hải lý, vùng đánh cả 6 hải lý.
Cuỗi cùng, hội nghị này cũng không thảnh công do không đạt được một thỏa thuận quốc tế nào. Như vậy, cả hai hội nghị luật biển lần thứ nhất và lan thử hai đều bị các nước thực dân, để quốc và các nước tư bản phát triển chỉ phối bởi nguyên tắc chủ đạo * tự đo trên biển” trái với lợi ich của các nước, các dan tộc nhỏ yeu, kém phát triển. Mặt khác việc dé cập đẻ giải quyết các van đẻ về biển còn nhiều khiém khuyết và tranh cãi. Hai nhân tổ chiến lược làm động lực và cơ sở cho cuộc dau tranh nhằm thay đổi về căn bản Luật biển quốc tế đó lả: ~ Nhân tô chính trị, thing lợi của cuộc cách mạng giải phóng din tộc ở Chau A, Châu Phi, Châu Mỹ La-Tinh dẫn đến công cuộc phi thực dân hóa ở Liên hợp quốc: hằng loạt quốc gia độc lập dân tộc dang phát triển nhanh chóng chiếm thành phan chủ yêu của tổ chức Liên hiệp quốc từ dau thập ki 60 thé ki XX.
— Nhân tế kỹ thuật, cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật diễn ra mạnh mẽ trong thập ki 60 thé ki XX khiến cho khả năng khai thắc các tài nguyên khoáng sản nằm dưới đáy biển va day đại dương có thé tiễn hành ở độ sâu rất lớn. Sau $ năm tri bị (1967-1972) và qua 9 năm thương lượng (1973-1982) với 11 khóa họp, hội nghị của Liên hợp quốc vẻ luật biển lan thứ 3 đã thông qua một Công ước mới của Liên hợp quốc về biển ngày 30/4/1982 với tỉ lệ 130 phiêu thuận, 4 phiếu chẳng, 17 phiểu trang va 2 nước không tham gia bỏ phiếu. Ngày 10/12/1982, công ước đã được 119 nước kí kết. Công ước của Liên hợp quốc vẻ biển năm 1982 đã chính thức có hiệu lực tir ngảy 16/11/1994.
Đây là công ước khá toàn diện, có lợi vẻ kinh tế cho các nước độc lập dân tộc, đang phát triển đồng thời tạo cơ sở pháp lý quốc té hỗ trợ các nước ven bien chong việc xâm hại chủ quyen và lợi ích của mình. Theo công ước này, Trang 8 toàn bộ hiển và đại dương thể giới đã được quy hoạch và thé chế hóa, Hau như không còn vùng biến ty do cho các quốc gia chiêm lĩnh. Ngày nay, cả thé giới đang chạy dua làm chủ biển. Việc khai thác lục dja của thể giới đang chững lại và nhân loại đang cô gắng bao tổn để có thé sử dụng kho tài nguyễn lục địa được tiết kiệm và lâu dải, nhưng ngược lại, loài người đang hước vào thời kì đầu của một thời đại hoàn toàn mới — Thời đại biển.
Con người đã biết sử dụng biển và đại đương vào nhiều mục đích khác nhau. Tùy theo sự phát triển vẻ nhận thức và tiến hộ của khoa học - kỹ thuật mà quy mé sử dụng hiển và đại dương ngảy cảng rộng rãi, to lớn. Một trong những đại đương lớn nhất thé giới đó là Thái Bình Dương và cùng với nó - trung tâm kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương đang trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất thé giới và là một trong những khu vực có sự phát triển kinh tế năng động và kỹ thuật tỉnh xảo nhất hành tỉnh. Các nước tiên tiễn, các nước dang phát triển đã và dang tìm mọi cách chinh phục và làm chủ biển.
Đó là một con đường đúng din và day triển vọng. Khi hiểu rõ được tam quan trong và ý nghĩa to lớn của đại dương đổi với sự phát triển của nhãn loại, người ta càng phải quan tâm và chú ý nhiều đến việc khai thác và quản lý, bảo vệ biến, 1. Chủ quyền biển đảo của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Theo từ điển bách khoa toàn thư của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995 thi chủ quyển quốc gia được định nghĩa như sau: “Chủ quyền quốc gia thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của quốc gia. Nội dung của chủ quyền quốc gia gom quyên toi cao của quốc gia trong phạm vi lãnh tho của mình và quyên độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế” Quyên tôi cao của quốc Bia ử trong nước thé hiện ở quyền lực day đủ để giải quyết mọi van đẻ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hỏa.không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế.