Chương 1: TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN BIỂN 1. Khái quát Biển Đông Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa lục địa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn, nằm gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Do nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên Biển Đông có tên gọi là “South China Sea” (Biển Nam Trung Hoa) [88].1: Toàn cảnh khu vực Biển Đông (Nguồn : http://community.edu/) 10 z “South China Sea” cũng là thuật ngữ tiếng Anh phổ biến nhất và là tên gọi quốc tế của vùng biển này, được ra đời vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với các nước phương Tây qua con đường tơ lụa. Tuy nhiên, tên gọi này chỉ mang ý nghĩa về mặt thuật ngữ mà không có ý nghĩa về mặt chủ quyền.
Chính vì vậy, các quốc gia còn có nhiều cách gọi khác nhau để phản ánh chủ quyền lịch sử của mình với khu vực biển này như: “Biển Đông” theo cách gọi của Việt Nam, “Nam Hải” hay “Nam Trung Quốc Hải” theo cách gọi của Trung Quốc, còn Philippines gọi là biển Luzon theo tên hòn đảo lớn Luzon của nước này [81].1 Vị trí địa lý, các địa danh và các quốc gia liên quan tới Biển Đông 1.1 Địa lý Biển Đông Biển Đông nằm ở phía Tây của Thái Bình Dương, là một biển kín được bao bọc bởi đảo Đài Loan, quần đảo Philippines ở phía đông, các đảo Indonesia và bán đảo Malaysia ở phía nam và đông nam, bán đảo Đông Dương ở phía tây và lục địa Nam Trung Hoa ở phía Bắc. Diện tích Biển Đông khoảng 3.000 km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140m và độ sâu cực đại khoảng 5. Theo Ủy ban Thủy văn học quốc tế, đường ranh giới cực bắc của Biển Đông là đường nối điểm cực bắc của đảo Đài Loan đến Thanh đảo của Trung Hoa, gắn vị trí vĩ độ 25010’N, ranh giới phía cực nam của biển là vùng địa hình đáy bị nâng lên giữa đảo Sumatra và Borneo (Kalimantan) gần vĩ độ 3000’S [71, tr.2 Các địa danh trên Biển Đông Biển Đông có các vịnh lớn như: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, các nhóm đảo lớn: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo, đá nhỏ cùng nhiều bãi cạn, bãi ngầm và các vùng biển khác. Trong đó, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nước mặn, diện tích khoảng 160.000km2, chu vi 1.950km, với khoảng 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, tập trung chủ yếu ở phía bờ Việt Nam.
Đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm khoảng giữa vịnh với diện tích 2,5km2, cách bờ biển Việt Nam khoảng 110km [71, tr. Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa thì: “Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển 11 z lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18030’19’’ Bắc, kinh tuyến 1080 41’17’’ Đông qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16057’40’’ Bắc và kinh tuyến 107008’42’’ Đông”. Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) nằm sâu vào phía bờ tây nam của Biển Đông là kết quả miền địa động học tách giãn, cắt trượt tạo địa hào, dọc kinh tuyến. Vịnh dài khoảng 2.300km và có diện tích khoảng 293.000km2, được bao bọc bởi bờ biển của Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia [71, tr.
Đây là một vịnh nông với độ sâu trung bình khoảng 60m, không có nhiều đảo nhỏ như Vịnh Bắc Bộ nhưng lại có nhiều đảo lớn như đảo Phú Quốc rộng hơn 568km2. Tài nguyên thiên nhiên của vùng biển này bao gồm hai loại: một bên là tài nguyên sinh vật biển với khoảng hơn 100 loài cá, trong số đó có khoảng 20 loài cá có tầm quan trọng về kinh tế, và bên kia là tài nguyên khoáng sản chứa trong các trầm tích của thềm lục địa. Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là "cát vàng" (tiếng Anh: Paracel Islands), nằm ở tọa độ: từ 15°45′ đến 17°15′ Bắc, từ 111°00′ đến 113°00′ Đông, là một nhóm khoảng 30 đảo và bãi đá cạn nằm trong một vùng rộng khoảng 14. Quần đảo nằm cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý về phía đông, cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) khoảng 120 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng 140 hải lý [71, tr.
Quần đảo gồm hai nhóm đảo là An Vĩnh (nhóm đảo phía Đông) và Lưỡi Liềm (nhóm đảo phía Tây), cùng nhiều bãi đá ngầm. Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: Nam Sa quần đảo; tiếng Tagalog: Kalayaan; tiếng Malaysia và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly) là nhóm gồm hơn 100 đảo, bãi đá và rạn san hô phân bố trên một diện tích rộng 160. Nằm trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏ, khí đốt. Mặc dù Trường Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ 12 z nhiều thế kỷ đến nay nhưng hiện tại có nhiều quốc gia khác cũng đang tuyên bố chủ quyền tại quần đảo này.3 Các quốc gia liên quan tới Biển Đông Biển Đông được bao quanh bởi bờ biển của 9 quốc gia là: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Campuchia [71].
Hầu hết các quốc gia có biên giới với vùng biển này đều đang tranh cãi và có những yêu sách khác nhau về chủ quyền cũng như các nguồn tài nguyên trên Biển Đông. Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế mở rộng vùng biển của mình ra 200 hải lý từ lãnh hải của họ, chính điều đó đã tạo lên những vùng biển chồng lấn trên Biển Đông [14]. Biển Đông có thể thông thương được với các biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và khu vực lân cận qua các eo biển. Chính điều này đã tạo sự gắn kết và quan hệ mật thiết giữa Biển Đông và các quốc gia ngoài khu vực qua con đường giao thương hàng hải quốc tế.2 Vai trò của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế Không chỉ là tuyến đường huyết mạch trong giao thương hàng hải, Biển Đông còn chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng về chủng loại, phong phú về trữ lượng, đặc biệt quan trọng cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước trong khu vực.
Có lẽ vậy mà không có một vùng biển nào trên Thế giới với diện tích tương đương lại chiếm một vị thế quan trọng về phương diện giao thông, kinh tế, chính trị, quân sự như Biển Đông.1 Vai trò trong giao thông hàng hải Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, tất cả các tuyến đường hàng không và hàng hải quốc tế nối liền hai khu vực Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương hay tuyến đường huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương đến Đông Nam Á đều đi qua Biển Đông. Với sự góp mặt của hai cảng lớn thế giới là cảng Hong Kong ở phía bắc và cảng Singapore ở phía nam, Biển Đông cũng được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của Thế giới. Khối lượng hàng hóa vận chuyển qua tuyến đường này rất lớn, chỉ riêng dầu lửa đã có hơn 90% nhu 13 z cầu của Nhật Bản, hơn 50% lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc vận chuyển qua Biển Đông [71, tr. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc.
Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Nằm trên lộ trình năng lượng trọng yếu với nhiều thương vụ buôn bán dầu Thế giới đi qua, Biển Đông được ví như một van điều tiết dòng chảy dầu thô giữa vùng Vịnh và các nền kinh tế ở Đông Nam Á. Như vậy, Biển Đông đang nắm giữ vị trí chiến lược trong giao thương hàng hải của các quốc gia khu vực nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Nếu các loại tàu biển không chạy qua Biển Đông mà vòng qua Nam Australia hoặc đi theo đường mới thì cước phí vận tải sẽ tăng lên gấp nhiều lần, khi đó thiệt hại về kinh tế càng chứng tỏ tầm quan trọng của Biển Đông đối với đời sống cộng đồng quốc tế.2 Vai trò trong phát triển kinh tế quốc gia Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các quốc gia ven biển, đặc biệt là tiềm năng sinh vật biển và khoáng sản phong phú, đa dạng.
Với trữ lượng tương đối lớn cùng đối tượng khai thác đa dạng, nhiều sinh vật có giá trị sử dụng, xuất khẩu cao, hoạt động khai thác có thể tiến hành quanh năm, Biển Đông đã đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho các quốc gia khu vực. Chính vì vậy, các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines đều phát triển và trở thành những quốc gia đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu Thế giới. Biển Đông cũng được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất Thế giới với hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia đã là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu khí (OPEC). Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí với tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn 14 z dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối [9,10].
Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng mỗi ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng.