Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện nội tiết trung ương năm 2022

Bài viết phân tích thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện nội tiết trung ương năm 2022.

Chuyên ngành

Nội người lớn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

2022

51
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Một số vấn đề cơ bản về bệnh đái tháo đường

1.2. Biến chứng của bệnh đái tháo đường

1.3. Tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh đái tháo đường

1.4. Cơ sở thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1. Giới thiệu về bệnh viện nội tiết trung ương

2.2. Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện nội tiết trung ương

3. CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Trạng Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc Đái Tháo Đường Type 2

Bệnh đái tháo đường type 2 đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt tại Việt Nam. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mắc bệnh này đang ở mức báo động. Việc tuân thủ sử dụng thuốc là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, thực trạng tuân thủ thuốc của người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp cải thiện.

1.1. Định Nghĩa Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc Ở Người Bệnh Đái Tháo Đường

Tuân thủ sử dụng thuốc được định nghĩa là mức độ mà hành vi của người bệnh tương ứng với các khuyến nghị từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Việc tuân thủ này rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

1.2. Tình Hình Bệnh Đái Tháo Đường Type 2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh đái tháo đường type 2 đang gia tăng với tỷ lệ mắc bệnh cao. Nhiều người bệnh không nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, dẫn đến tình trạng kiểm soát đường huyết kém.

II. Vấn Đề Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc Của Người Bệnh Đái Tháo Đường

Mặc dù có nhiều loại thuốc hiệu quả, nhưng tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 vẫn thấp. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này có thể dao động từ 10% đến 92%. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm sự phức tạp trong phác đồ điều trị và thiếu thông tin từ bác sĩ.

2.1. Nguyên Nhân Không Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc

Nguyên nhân không tuân thủ thuốc bao gồm cảm thấy hết triệu chứng, quên uống thuốc, và nhầm thuốc. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị.

2.2. Hệ Lụy Của Việc Không Tuân Thủ

Việc không tuân thủ thuốc dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như tăng chi phí điều trị, tiến triển bệnh, và giảm chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu cho thấy người bệnh không tuân thủ có nguy cơ nhập viện cao hơn.

III. Phương Pháp Nâng Cao Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc

Để cải thiện tình trạng tuân thủ sử dụng thuốc, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh và gia đình là rất quan trọng. Ngoài ra, việc đơn giản hóa phác đồ điều trị cũng có thể giúp nâng cao tỷ lệ tuân thủ.

3.1. Giáo Dục Sức Khỏe Cho Người Bệnh

Giáo dục sức khỏe giúp người bệnh hiểu rõ về bệnh và tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị. Các chương trình giáo dục có thể được tổ chức tại bệnh viện hoặc qua các kênh truyền thông.

3.2. Đơn Giản Hóa Phác Đồ Điều Trị

Đơn giản hóa phác đồ điều trị giúp người bệnh dễ dàng tuân thủ hơn. Việc sử dụng thuốc kết hợp hoặc giảm số lượng liều trong ngày có thể là giải pháp hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu Tại Bệnh Viện Nội Tiết Trung Ương

Nghiên cứu tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy nhiều người bệnh vẫn chưa tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất có thể giúp cải thiện tình hình này. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ và người bệnh để đạt được hiệu quả tốt nhất.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Bệnh Viện

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện còn thấp. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình hình.

4.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Đề xuất các giải pháp như tăng cường giáo dục sức khỏe, đơn giản hóa phác đồ điều trị và theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe của người bệnh để nâng cao tỷ lệ tuân thủ.

V. Kết Luận Về Thực Trạng Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc

Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cần được cải thiện. Việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu biến chứng. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tương Lai Của Việc Quản Lý Bệnh Đái Tháo Đường

Tương lai của việc quản lý bệnh đái tháo đường sẽ phụ thuộc vào khả năng nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tìm ra các giải pháp hiệu quả hơn.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Sự Hợp Tác

Sự hợp tác giữa bác sĩ, người bệnh và gia đình là rất quan trọng trong việc nâng cao tuân thủ điều trị. Cần xây dựng mối quan hệ tin cậy để người bệnh cảm thấy thoải mái khi chia sẻ thông tin.

22/06/2025
Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện nội tiết trung ương năm 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về bệnh đái tháo đường 1. Đái tháo đường (DM) là tình trạng giảm tiết insulin và kháng insulin ngoại vi dẫn đến tăng glucose máu. Đái tháo đường là một bệnh mãn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin mà nó sản xuất.

Insulin là một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu. Tăng đường huyết là một biểu hiện chính của bệnh đái tháo đường không kiểm soát được và theo thời gian dẫn đến tổn thương nghiêm trọng đối với nhiều hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các dây thần kinh và mạch máu. Phân loại Đái tháo đường type 2 Đái tháo đường type 2 (trước đây được gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin, hoặc đái tháo đường khởi phát ở người lớn) là kết quả của việc cơ thể sử dụng insulin không hiệu quả. Hơn 95% người mắc bệnh đái tháo đường là type 2.

Đái tháo đường type 2 đa phần là kết quả của trọng lượng cơ thể dư thừa và ít hoạt động thể chất. Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 1 (trước đây được gọi là đái tháo đường phụ thuộc insulin, đái tháo đường thanh thiếu niên hoặc đái tháo đường khởi phát thời thơ ấu) được đặc trưng bởi việc thiếu hụt sản xuất insulin và cần sử dụng insulin hàng ngày. Năm 2017 có 9 triệu người mắc bệnh đái tháo đường type 1; đa số họ sống ở các nước có thu nhập cao. Đái tháo đường thai kỳ Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng tăng đường huyết với giá trị đường huyết trên mức bình thường nhưng dưới mức chẩn đoán của bệnh đái tháo đường.

Đái tháo đường thai kỳ xảy ra trong thời kỳ mang thai. Suy giảm dung nạp glucose và tăng đường huyết lúc đói Suy giảm dung nạp glucose (Impaired glucose tolerance -IGT) và tăng đường 4 huyết lúc đói (impaired fasting glycaemia -IFG) là những tình trạng trung gian trong quá trình chuyển đổi giữa bình thường và bệnh đái tháo đường. Những người có IGT hoặc IFG có nguy cơ cao tiến triển thành bệnh đái tháo đường type 2, mặc dù điều này có thể tránh được. Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

d) Người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Trong trường hợp không có tăng đường huyết rõ rệt, chẩn đoán cần có hai kết quả xét nghiệm bất thường từ cùng một mẫu hoặc trong hai mẫu xét nghiệm riêng biệt. Biến chứng của bệnh đái tháo đường[4] Người bệnh đái tháo đường nếu không được kiểm soát đường máu tốt có thể dẫn đến nhiều biến chứng, chủ yếu là các biến chứng mạch máu ( bao gồm các bệnh lý mạch máu nhỏ (vi mạch) và mạch máu lớn hoặc cả hai) Bệnh vi mạch bao gồm 3 tổn thương phổ biến và phá hủy của đái tháo đường: Bệnh võng mạc đái tháo đường Bệnh võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa người lớn tại Mỹ. Bệnh được đặc trưng ban đầu bởi vi phình mạch của mao mạch võng mạc (nền tảng bệnh võng mạc) và sau đó là tân sinh mạch máu (bệnh võng mạc tăng sinh) và phù hoàng điểm.

Bệnh thận đái tháo đường Bệnh thận đái tháo đường là một nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận mạn tại Mỹ. Bệnh được đặc trưng bởi sự dày lên của màng đáy cầu thận, tăng sinh gian 5 mạch, và xơ cứng cầu thận. Những thay đổi này gây tăng áp lực cầu thận và suy giảm dần mức lọc cầu thận. Chẩn đoán dựa phát hiện albumin nước tiểu.

Bệnh thần kinh đái tháo đường Bệnh thần kinh đái tháo đường là hậu quả của thiếu máu thần kinh do bệnh vi mạch, ảnh hưởng trực tiếp của tăng đường máu trên tế bào thần kinh, và những thay đổi trao đổi chất nội bào làm giảm chức năng thần kinh. Có nhiều dạng, gồm  Bệnh đa dây thần kinh đối xứng (với các biến đổi sợi nhỏ và lớn)  Bệnh thần kinh tự chủ  Bệnh lý rễ dây thần kinh  Bệnh dây thần kinh sọ não  Bệnh đơn dây thần kinh Bệnh vi mạch cũng có thể khiến giảm liền da, thậm chí tổn thương nhỏ trên da lành có thể phát triển thành loét sâu hơn và dễ bị nhiễm khuẩn, đặc biệt ở chi dưới. Bệnh mạch máu lớn liên quan xơ vữa động mạch của các mạch lớn, có thể dẫn tới  Đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim  Thiếu máu não thoáng qua và đột quị  Bệnh động mạch ngoại biên Rối loạn chức năng miễn dịch là một biến chứng lớn khác và phát triển từ những tác động trực tiếp của tăng đường máu trên miễn dịch tế bào. Người bệnh đái tháo đường dễ bị nhiễm khuẩn và nhiễm nấm.

Ngoài ra, người bệnh đái tháo đường có nguy cơ tiến triển các bệnh lý sau Bệnh cơ tim Nhiễm trùng Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) Biến chứng bàn chân đái tháo đường (thay đổi da, loét, nhiễm trùng, hoại tử) là phổ biến và có thể do bệnh mạch máu, thần kinh, và liên quan tới ức chế miễn dịch. Người bệnh đái tháo đường có nguy cơ cao phát triển một số bệnh cơ xương khớp, bao gồm nhồi máu cơ, hội chứng ống cổ tay, co rút Dupuytren,, viêm bao hoạt dịch, và xơ cứng 1. Điều trị[4] 6 Điều trị chung của đái tháo đường cho tất cả người bệnh gồm thay đổi lối sống, thay đổi chế độ ăn và luyên tập. Người bệnh cần theo dõi thường xuyên nồng độ glucose máu để phòng tránh biến chứng của đái tháo đường.

Người bệnh đái tháo đường type 1 điều trị bằng insulin, kết hợp chế độ ăn và luyện tập. Người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị bằng các thuốc hạ đường huyết đường uống, insulin, kết hợp chế độ ăn và luyện tập. Nếu kết quả định lượng không đủ kiểm soát đường máu, người bệnh có thể được phối hợp các loại thuốc hạ đường máu, đồng vận thụ thể glucagon-like peptide-1 (GLP-1), insulin để tăng hiệu quả điều trị. Insulin Insulin là bắt buộc đối với tất cả người bệnh đái tháo đường type 1 vì nếu không có insulin, người bệnh sẽ bị toan ceton ; insulin cũng rất hữu ích cho việc quản lý đường huyết của nhiều người bệnh đái tháo đường type 2.

Điều trị thay thế Insulin ở người bệnh đái tháo đường type 1 nên bắt trước chức năng tế bào beta, sử dụng 2 loại insulin để cung cấp nhu cầu nền và bữa ăn (thay thế sinh lý); tiếp cận này đòi hỏi chú ý đến chế độ ăn và luyện tập cũng như thời gian và liều insulin. Khi dùng insulin điều trị cho người bệnh đái tháo đường type 2, kiểm soát đường máu có thể đạt được với insulin nền kết hợp với thuốc hạ đường máu không insulin, dù vậy insulin bữa ăn có thể cần cho một số người bệnh. Thuốc uống hạ đường máu Thuốc uống hạ đường máu (xem các bảng đặc trưng của các thuốc hạ đường huyết đường uống và một số kết hợp thuốc hạ đường uống) là trụ cột của điều trị đái tháo đường type 2, cùng với đồng vận thụ thể glucagon-like peptide-1 (GLP- 1). Insulin thường bổ sung khi ≥ 3 thuốc thất bại kiểm sát đường máu.

Thuốc uống hạ đường máu có thể  Tăng tiết insulin từ tụy (secretagogues)  Mô ngoại vi nhạy cảm với insulin (sensitizers)  Giảm hấp thu glucose từ đường tiêu hóa  Tăng glucose nước tiểu 7 Các loại thuốc với các cơ chế tác dụng khác nhau có thể có tác dụng hiệp đồng. Các thuốc hạ đường huyết phổ biến có thể kể đến các nhóm thuốc sau: Sulfonylureas Sulfonylureas là thuốc kích thích tụy tiết insulin. Các thuốc này làm hạ glucose máu bằng cách kích thích tế bào beta của tụy tiết insulin và có lẽ tăng nhạy cảm insulin với các mô ngoại vi và tại gan. Biguanides Biguanides làm giảm lượng glucose trong huyết tương bằng cách giảm sản xuất glucose ở gan (tạo gluconeogenesis và glycogenolysis).

Chúng được coi là chất làm nhạy cảm với insulin ngoại vi, nhưng sự kích thích hấp thu glucose ở ngoại vi của chúng có thể chỉ đơn giản là kết quả của việc giảm glucose do tác động lên gan của chúng. Đại diện là metformin Thiazolidinediones Thiazolidinediones (TZDs) làm giảm đề kháng insulin ở mô ngoại vi (chất nhạy cảm với insulin), nhưng cơ chế chuyển hóa của nó thì còn chưa sáng tỏ. Thuốc này gắn với receptor ở nhân của tế bào mỡ (PPAR-γ), nó dịch mã gen liên quan chuyển hoá glucose và chuyển hóa lipid. Thuốc ức chế DPP-4 Chất ức chế dipeptidyl peptidase-4 (ví dụ alogliptin, linagliptin, saxagliptin) kéo dài tác dụng của peptide-1 giống glucagon nội sinh (GLP-1) bằng cách ức chế enzym dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4), có liên quan đến sự cố của GLP-1.

Ức chế SGLT-2 Thuốc ức chế SGLT2 như canaglifozin, dapaglifozin, empaglifozin ức chế SGLT2 ở phần gần ống thận, nó ức chế tái hấp thu glucose bởi vậy nó gây ra glucose niệu và làm giảm glucose máu. Empagliflozin đã được chứng minh là làm giảm các biến cố tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao. Ức chế Dopamin Bromocriptine là 1 chất ức chế dopaminehạ HbA1C khoảng 0,5% mặc dù cơ chế chưa được hiểu rõ. Mặc dù được chấp nhận dùng cho bệnh nhân đái tháo đường type 2 nhưng không thường dùng bởi vì những tác dụng phụ của nó.

8 Thuốc hạ glucose máu đường tiêm Thuốc hạ đường máu ngoài insulin là glucagon-like peptide-1 (GLP-1) amylin analog, pramlintide. Các thuốc này thường được dùng kết hợp với các thuốc hạ đường máu khác. Nhóm thuốc này bao gồm: Đồng vận thụ thể GLP-1 Chất tương tự Amylin 1. Tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh đái tháo đường Tuân thủ dùng thuốc được Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa là "mức độ mà hành vi của người đó tương ứng với các khuyến nghị đã được đồng ý từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe".

Mặc dù vậy, có 2 định nghĩa hoàn toàn khác nhau, mặc dù chúng là các khái niệm tương tự là “adherence” và “compliance”. “Compliance” là mức độ mà hành vi của người bệnh phù hợp với lời khuyên của người kê đơn[38], nghĩa là người bệnh tuân theo thẩm quyền của bác sĩ, trong khi “adherence” biểu thị rằng người bệnh và bác sĩ hợp tác để cải thiện sức khỏe của người bệnh bằng cách tích hợp ý kiến y tế của bác sĩ và người bệnh về lối sống, giá trị và xu hướng chăm sóc sức khỏe [39] Có một số dạng “không tuân thủ” nhưng thường thì việc phân loại có mức độ trùng lặp nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực Trạng Tuân Thủ Sử Dụng Thuốc Của Người Bệnh Đái Tháo Đường Type 2 Tại Bệnh Viện Nội Tiết Trung Ương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường type 2. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những thách thức mà người bệnh gặp phải trong việc tuân thủ phác đồ điều trị mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng này. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và giáo dục bệnh nhân để đảm bảo hiệu quả điều trị tốt nhất.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Hảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị bệnh đái tháo đường type 2, nơi cung cấp thông tin chi tiết về kết quả điều trị ở bệnh nhân. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu tính đa hình đơn nucleotide tại intron 1 và sự liên quan của gen fto với bệnh đái tháo đường týp 2 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố di truyền liên quan đến bệnh. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và biến chứng mạn tính ở bệnh nhân đái tháo đường type 1 cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu thêm về các biến chứng và yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh đái tháo đường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bệnh đái tháo đường và cách quản lý hiệu quả.