CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm bệnh đái tháo đường Là bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân, đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, tác động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [22], [24], [27], [28]. Chẩn đoán đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây: a.
Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b. Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) [31], [38], [41].
Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất. Lưu ý: - Glucose huyết đói được đo khi BN nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ). - Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: BN nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng 75g glucose, hòa trong 250 - 300 mL nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó BN ăn khẩu phần có khoảng 150 - 200 4 gam carbohydrat mỗi ngày, không mắc các bệnh lý cấp tính và không sử dụng các thuốc làm tăng glucose huyết. Định lượng glucose huyết tương tĩnh mạch Sơ đồ chẩn đoán đái tháo đường [22], [24].
Sơ đồ chẩn đoán đái tháo đường [24] [Nguồn: Bộ Y tế (2020)] 1. Phân loại bệnh đái tháo đường 1. Đái tháo đường type 1 Do tế bào β bị phá hủy nên BN không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (type 1A), 5% vô căn (type 1B). BN bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton.
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. BN cần insulin để ổn định glucose huyết. Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm còn gọi là LADA, lúc đầu BN còn đủ insulin nên không bị nhiễm toan ceton và có thể điều trị bằng thuốc viên nhưng tình trạng thiếu insulin sẽ nặng dần với thời gian [24]. Đái tháo đường type 2 ĐTĐ type 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90 - 95% các trường hợp ĐTĐ, bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin.
Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống BN ĐTĐ type 2 không cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ type 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào. BN không có sự phá hủy TB β do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số BN có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to.
Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, TB cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu TB β bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, TB β sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ type 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [24]. Đái tháo đường thai kỳ Được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1, type 2 trước đó.
Nếu phụ nữ có thai 3 tháng đầu được phát hiện tăng glucose huyết thì chẩn đoán là ĐTĐ chưa được chẩn đoán hoặc chưa được phát hiện và dùng tiêu chí chẩn đoán như ở người không có thai [24]. Đái tháo đường thứ phát và thể bệnh chuyên biệt của đái tháo đường - Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen trội tại TB β: ĐTĐ đơn gen thể MODY; Insulin hoặc proinsulin đột biến; Đột biến kênh KATP; Protein đột biến: Thụ thể Sulfonylureaa 1 - gen ABBC8. - Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen lặn tại TB β: hội chứng Mitchell - Riley, hội chứng Wolfram, hội chứng thiếu máu hồng cầu to đáp ứng với thiamine, ĐTĐ do đột biến DNA ty thể,. Các thể bệnh này hiếm gặp, thường gây ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ ở trẻ em.
6 - Khiếm khuyết gen liên quan đến hoạt tính insulin. - Các hội chứng bất thường nhiễm sắc thể khác (hội chứng Down, Klinefelter, Turner,.) đôi khi cũng kết hợp với ĐTĐ. - Bệnh lý tụy: viêm tụy, chấn thương, u, cắt tụy, xơ sỏi tụy, nhiễm sắc tố sắt,… - ĐTĐ do bệnh lý nội tiết: to đầu chi, hội chứng Cushing, u tủy thượng thận, cường giáp, u tiết glucagon. - ĐTĐ do thuốc, hóa chất: interferon alpha, corticoid, thiazide, hormon giáp, thuốc chống trầm cảm,… [22], [24].
Phân biệt đái tháo đường type 1 và type 2 Bảng 1. Phân biệt đái tháo đường type 1 và type 2 [22], [24], [39] [Nguồn: Bộ Y tế (2020)] Đặc điểm ĐTĐ type 1 ĐTĐ type 2 Trẻ, thanh thiếu niên Tuổi trưởng thành (thường > Tuổi xuất hiện (thường < 40 tuổi) 40 tuổi) Các triệu chứng rầm Chậm, thường không rõ triệu Khởi phát rộ chứng - Bệnh diễn tiến âm ỉ, ít triệu chứng - Thể trạng béo phì, thừa cân - Tiền sử gia đình có người - Sút cân nhanh chóng mắc bệnh ĐTĐ type 2 Biểu hiện lâm sàng - Đái nhiều - Đặc tính dân tộc có tỷ lệ - Uống nhiều mắc bệnh cao - Chứng tiêu gai đen (Acanthosis nigricans) - Hội chứng buồng trứng đa nang Nhiễm ceton, tăng ceton Dương tính Thường không có trong máu, nước tiểu 7 Insulin C - peptid Thấp/ không đo được Bình thường hoặc tăng Kháng thể: - Kháng đảo tụy (ICA) - Kháng Glutamic acid decarboxylase 65 (GAD 65) Dương tính Âm tính - Kháng Insulin (IAA) - Kháng Tyrosine phosphatase (IA - 2) - Kháng Zinc Transporter 8 (ZnT8) Thay đổi lối sống, thuốc viên Điều trị Bắt buộc dùng insulin và/hoặc insulin Cùng hiện diện với bệnh Có thể có Hiếm tự miễn khác Các bệnh lý đi kèm lúc - Không có mới chẩn đoán: tăng - Nếu có, phải tìm các Thường gặp, nhất là hội huyết áp, rối loạn bệnh lý khác đồng chứng chuyển hóa chuyển hóa lipid, béo mắc phì 1. Yếu tố nguy cơ - Tuổi: nguy cơ ĐTĐ tăng theo dần theo quá trình lão hóa. Ở các nước phát triển ĐTĐ thường tập trung ở lứa tuổi trên 45.
- Tăng huyết áp (THA): được coi là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2. Đa số BN ĐTĐ type 2 có THA và tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở BN THA cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi. Tỷ lệ THA ở BN ĐTĐ type 2 đều tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu. - Béo phì: béo phì trung tâm là một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng đề kháng insulin, cùng các rối loạn chuyển hóa khác như THA và rối loạn mỡ máu đều có khả năng tiến triển thành ĐTĐ nếu không được kiểm soát 8 tốt.
Ảnh hưởng của béo phì đến ĐTĐ có thể điều chỉnh bằng thay đổi lối sống [30]. - Chế độ ăn và hoạt động thể lực: những người có thói quen dùng nhiều đường saccarose, ăn nhiều chất béo sẽ có nguy cơ bị ĐTĐ type 2. Những người có thói quen uống nhiều rượu, có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 lớn hơn những người uống ít rượu và ăn uống điều độ. - Yếu tố gia đình: quan hệ huyết thống với BN ĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là ở ĐTĐ type 2.
Nguy cơ này tùy thuộc số lượng thành viên trong gia đình mắc bệnh. Số người thân bị ĐTĐ càng nhiều thì khả năng mắc càng lớn. Nếu cộng thêm tình trạng thừa cân thì nguy cơ này sẽ là 50% [33]. Hiện nay người ta chưa xác định đuợc gen có vai trò chủ yếu nhưng đã xác định nhiều gen có liên quan đến ĐTĐ type 2 như gen liên quan đến glucokinase, receptor insulin, receptor glucose, glycogen synthetase,.
- Yếu tố chủng tộc: tỷ lệ ĐTĐ type 2 gặp ở tất cả các dân tộc, nhưng với tỷ lệ và mức độ hoàn toàn khác nhau. - Yếu tố môi trường và lối sống: khi ăn uống không hợp lý sẽ dẫn đến sự mất cân bằng và dư thừa năng lượng, kết hợp với lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thúc đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh, làm tăng nhanh tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2. - Tiền sử giảm dung nạp glucose: những người có tiền sử giảm dung nạp glucose, thì khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ type 2 rất cao. Những người bị rối loạn dung nạp glucose và rối loạn glucose máu lúc đói nếu biết sớm chỉ cần can thiệp bằng chế độ ăn và luyện tập sẽ giảm hẳn nguy cơ chuyển thành bệnh ĐTĐ type 2 thực sự.
- Tiền sử sinh con nặng trên 4 kg: trẻ mới sinh nặng > 4 kg là một yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ type 2 cho cả mẹ và con. Các bà mẹ này có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao hơn so với phụ nữ bình thường. Những trẻ này thường bị béo phì từ nhỏ, rối loạn dung nạp glucose và bị ĐTĐ type 2 khi lớn tuổi. Biến chứng của đái tháo đường 1.
Biến chứng cấp tính - Nhiễm toan ceton: thường xảy ra ở BN ĐTĐ type 1 là tình trạng trầm trọng của rối loạn chuyển hóa glucid do thiếu insulin nặng gây tăng cao glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức và hậu quả là mất nước và điện giải trong và ngoài TB. Đây là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong các biến chứng cấp tính của ĐTĐ [16], [18], [19].