Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sức khỏe và tình hình bệnh tật của trẻ em dưới 5 tuổi 1. Định nghĩa sức khỏe: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa: “Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc đau yếu”. Tình trạng sức khỏe tốt có hàm ý là con người đạt được sự cân bằng động với môi trường xung quanh, có khả năng thích ứng với môi trường.
Đối với cá nhân, tình trạng sức khỏe tốt có nghĩa là chất lượng cuộc sống của họ được cải thiện, ít bị đau ốm, ít khuyết tật; cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội hạnh phúc; cá nhân có cơ hội lựa chọn trong công việc và nghỉ ngơi. Đối với cộng đồng, có tình trạng sức khỏe tốt có nghĩa là chất lượng cuộc sống của người dân cao hơn; người dân có khả năng tham gia tốt hơn trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phòng bệnh, hoạch định chính sách về sức khỏe [2]. Tình hình bệnh tật và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) công bố báo cáo cho biết số trẻ em dưới 5 tuổi bị tử vong trên toàn thế giới đã giảm từ hơn 12 triệu trẻ vào năm 1990 xuống còn 7,6 triệu trẻ vào năm 2010. Theo WHO các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là viêm phổi, tiêu chảy, sốt rét và các bệnh lý chu sinh.
Một phần ba số tử vong ở trẻ có liên quan đến vấn đề dinh dưỡng. Tử vong trẻ em các nước có thu nhập thấp cao gấp gần 18 lẩn ở các nước có thu nhập cao [52]. Trên thế giới, mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) 4-9 lần, ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 2 tỷ lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc NKHHC trong đó khoảng 20% là viêm phổi. Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới.
Hằng năm khoảng 1,4 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết do viêm phổi - nhiều hơn AIDS, bệnh sốt rét và lao kết hợp lại [53]. Trong khi đó ước tính khoảng 500 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mắc ít nhất một đợt tiêu chảy. Tiêu chảy là nguyên nhân thứ hai gây tử vong cho trẻ em sau NKHHCT và 80% tử vong do tiêu chảy xảy ra ở trẻ em dưới 2 5 tuổi. Ở nước ta bình quân một trẻ dưới 5 tuổi mỗi năm mắc từ 0,8 - 2,2 đợt tiêu chảy.
Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới tăng trưởng của trẻ. Bệnh tiêu chảy có sự khác biệt theo mùa và theo địa dư. Ở vùng ôn đới, tiêu chảy do vi khuẩn xảy ra cao điểm vào mùa nóng, tiêu chảy do virus thường xảy ra cao điểm vào mùa đông. Ở vùng nhiệt đới, tiêu chảy do vi khuẩn xảy ra cao điểm vào mùa mưa và mùa nóng, tiêu chảy do Rotavirus lại xảy ra cao điếm vào mùa khô lạnh.
Cũng theo WHO cứ 45 giây lại có một trẻ tử vong vì bệnh sốt rét ở châu Phi, hon 90% trẻ em nhiễm HIV là lây truyền từ mẹ. Khoảng 20 triệu trẻ em trên thế giới bị suy dinh dưỡng cấp tính nặng [24], [52], [27]. Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 42%O năm 2001, xuống 27,5%O năm 2005 và đến năm 2009 còn 25,0%o. Tỷ lệ tử vong trẻ em trong các gia đình nghèo cao gấp 3 đến 4 lần so với trẻ em ở trong các gia đình có thu nhập cao.
Có sự chênh lệch khá lớn về tình trạng sức khỏe trẻ em giữa các vùng, miền, thể hiện ở một trong các chỉ số như tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi. Đối với tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, mặc dù tỷ lệ này giảm ở tất cả các vùng, trong đó có các vùng khó khăn, nhưng tỷ lệ ở Tây Nguyên, Tây Bắc và Đông Bắc vẫn còn cao gấp 1,4-1,5 lần so với mức bình quân của cả nước. Chênh lệch giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Nam Bộ có xu hướng giảm từ 3 lần năm 2005 (33,9%O và 10,6%o) xuống còn khoảng 2,5 lần năm 2008 (21%0 và 8%o), tuy nhiên mức chênh lệch này vẫn còn rất lớn [5]. Còn một số lượng lớn trẻ em Việt Nam tử vong hằng năm.
Mặc dù tử vong trẻ em nước ta đã giảm một cách đáng kể nhưng với cơ cấu dân số có tỷ lệ trẻ em cao (trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 6,7% dân số, ước tính khoảng 6.000 trẻ) nên số trẻ tử vong vẫn còn rất cao. Theo đánh giá của UNICEF hằng năm vẫn có tới 31.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong. Các nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em Việt Nam là bệnh lý chu sinh và thai nhi; tai nạn, chấn thương và ngộ độc; bệnh hệ tuần hoàn; bệnh hệ hô hấp; bệnh hệ tiêu hóa [5], [24], 6 1. Sơ lược về kháng sinh 1.
Khái niệm Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi sinh vật [23]. Vấn đề sử dụng thuốc an toàn, hợp lý 1. Sử dụng thuốc hợp lý Hội nghị Nairobi, Kenya năm 1985 đã định nghĩa về sử dụng thuốc hợp lý như sau: “Sử dụng hợp lý thuốc là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được các thuốc thích họp với yêu cầu của lãm sàng, liều lượng phù họp với từng cá thể, trong thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho moi người cũng như cho cộng đồng của họ” 1. Nguyên tắc sử dụng KS an toàn, họp lý (sử dụng KS đúng).
- Đi khám bệnh và dùng KS theo đơn, hướng dẫn của bác sĩ. - Nên mua KS ở những cơ sở họp pháp như: hiệu thuốc quốc doanh, hiệu thuốc có đăng lý, nhà thuốc có đăng ký. - Khi mua KS phải yêu cầu người bán ghi rõ tên và hàm lượng thuốc trên từng bao gói riêng biệt - Cách dùng: - Không nên dùng nhiều loại KS phối họp, trừ khi thầy thuốc có yêu cầu cụ thể với một số bệnh. - Khi cần phải uống nhiều loại thuốc thì phải pha riêng từng loại, không nên trộn chung.
- Không pha KS với nước hoa quả, nước chè. - Khi dùng KS cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuổi hoặc cân nặng. - Khi cho trẻ em dùng KS phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủ theo đúng sự chỉ dẫn đó. 7 - Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nôn, mẩn ngứa phải ngừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT.
- Nếu dùng KS 2 - 3 ngày mà không có hiện tượng đỡ bệnh phải báo lại cho cán bộ y tế xem xét lại, không tự ý thay thuốc khác. - Không dùng KS theo kinh nghiệm truyền miệng hay sự mách bảo của người khác. - Tuân thủ đúng theo đơn của bác sĩ. - Chỉ dùng KS để chữa các bệnh nhiễm khuẩn, không dùng KS để phòng bệnh khi bệnh chưa xảy ra.
- Dùng KS phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian. - Đúng liều: liều của 1 lần uống, liều của 1 ngày uống, liều cho trẻ. - Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, bất cứ lúc nào tùy từng loại thuốc, theo hướng dẫn sử dụng. - Đủ thời gian: một đợt điều trị ít nhất là 5 ngày [61, [9].
Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh 1. Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới Nghiên cứu về việc SDKS an toàn, họp lý cho thấy hầu hết các ý kiến chỉ tập trung vào kiểm soát việc kê đơn KS của các bác sĩ lâm sàng mà không tập trung vào hành vi tự SDKS của đối tượng là bệnh nhân tự điều trị. Mục đích của nghiên cứu này là để khảo sát tình hình tự mua KS không có đơn của bác sĩ qua internet thông qua 2 công cụ tìm kiếm là Google và Yahoo. Kết quả cho thấy có 138 nhà cung cấp thuốc KS mà không cần đơn.
Trong số những nhà cung cấp có 32,6% bán thuốc mà không cần đơn, 63,8% cung cấp trực tuyến theo nhu cầu của khách hàng. Các KS thông dụng hầu hết có mặt trên các trang web: trên 94,2% penicillin, 96,4% macrolid, 56,5% cephalosporin. Nghiên cứu đã cho thấy KS đã được tự do mua bán và sẵn có trên internet mà không cần đơn thuốc, một thực trạng đã khuyến khích người dân tự điều trị và khiến cho chất lượng chăm sóc thấp [37], 8 Theo nghiên cứu của Nakajima và cộng sự (2010) tại Mông cổ tìm hiểu việc tự SDKS của người dân trong cộng đồng cho thấy: trong 619 khách hàng mua thuốc có 48% khách hàng mua ít nhất 1 loại KS, và chỉ có 42% có đơn KS điều này cho thấy ràng KS có thể dễ dàng mua được mà không cần đơn của bác sĩ. Trong số 67% khách hàng mua thuốc được cung cấp thông tin về liều lượng và thời gian sử dụng thuốc thì chỉ có 9% được cung cấp các thông tin liên quan đến ảnh hưởng bất lợi do thuốc gây ra.
Nghiên cứu cũng được tiến hành phỏng vấn trên các đối tượng là bác sĩ và cho thấy một thực tế là có một số thuốc KS đã trở nên kém hiệu quả lâm sàng giữa năm 2001 và 2006. Và sau đó nghiên cứu cũng đã đưa ra khuyến cáo là cần có một cơ quan pháp lý để thúc đẩy việc thực thi của pháp luật về các quy định của thuốc ở Mông cổ, để tạo nhận thức về sự nguy hiểm của kháng KS đối với người dân và các chiến dịch nâng cao kiến thức cho người dân là cần thiết [49]. Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Katherine được thực hiện tại 03 nhà thuốc của thành phố Valdivia, phía Nam Chile (2008) cho thấy: có tới 75% người dân tự SDKS trong cộng đồng, và phụ nữ là đối tượng chủ yếu SDKS không theo đơn của bác sĩ. Lý do chính cho việc dùng thuốc không cần đơn là bệnh nhẹ như: đau đầu (19%), cảm lạnh thông thường (8,8%).và tái sử dụng đơn thuốc là 46% [36].
Việc SDKS không theo đơn của bác sĩ mà tự ý mua thuốc tại các hiệu thuốc để điều trị là tình trạng xảy ra phổ biến ở vùng nông thôn.