Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LỆU 4 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúu 15 1. Đối tượng nghiên cứu 15 2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15 3. Thiết kế nghiên cứu 15 4.
Mầu và phương pháp chọn mầu 15 5. Phương pháp thu thập số liệu 16 6. Xử lý và phân tích số liệu 17 7. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 17 8.
Biến số nghiên cứu, các khái niệm dung cho nghiên cứu 18 Chương 3: KÉT QUẢ NGHIÊN cứu 26 Chương 4: BÀN LUẬN 36 Chương 5: KẾT LUẬN 42 Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC 48 Phụ lục 1: Phiếu hỏi 48 Phụ lục 2: Cây vấn đề 55 4 Bảng Trang 1. Thông tin chung về các bà mẹ được điều tra.26 Bảng 1: Phân bố tuổi của các bà mẹ.26 Bàng 2: Phân bố trình độ học vấn của các bà mẹ.26 Bảng 3: Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ.26 Bảng 4: Phân bổ các bà mẹ có con bị TC.27 Bảng 5: Phân thành phàn dân tộc của các bà mẹ. Kiến thức về dự phòng và chăm sóc trẻ bị bệnh TC.27 Bảng 1: Cách bú có thể phòng được bệnh TC.27 Bảng 2: Cách phòng bệnh TC.28 Bảng 3: Mức độ hiểu biết của các bà mẹ về phòng bệnh TC.28 Bảng 4: Hiểu biết về chăm sóc trẻ bị TC. 28 Bàng 5: Hiểu biết về các biểu hiện của bệnh TC.
28 Bảng 6: Hiểu biết về các mức độ TC.29 Bảng 7: Các bà mẹ hiểu biết về các dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tế.29 Bảng 8: Các bà mẹ hiểu biết về các dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tể. Thực hành dự phòng và chăm sóc trẻ bị bệnh TC.29 Báng 1: Tỷ lệ trẻ được bú. 29 Bảng 2: Tỷ lệ trẻ được bú giọt sữa đầu.30 Bảng 3: Tỷ lệ trẻ được ăn sam/ăn dặm. 30 Bảng 4: Tỷ lệ bà mẹ có rửa tay trước khi cho trẻ ăn.30 Bảng 5: Tỷ lệ gia đình sử dụng hố xí.30 Bảng 6: Tỷ lệ bà mẹ sử dụng nguồn nước cho trẻ.31 Bàng 7: Tỷ lệ bà mẹ tự điều trị cho con ở nhà.31 Bảng 8: Tỷ lệ bà mẹ biết cách pha ORESOL.31 Bảng 9: Tỷ lệ các bà mẹ biết cách cho con uốngdung dịch ORESOL.31 Bảng 10: Tỷ lệ cho ăn đúng khi trẻ bị TC.32 Bảng 11: Tỷ lệ các bà mẹ cho con bú đúng khi trẻ bị TC.32 Bảng 12:Tỷ lệ các bà mẹ sử dụng thuốc cho trẻ khi bị TC.32 Bảng 13: Cách bù nước của các bà mẹ cho con.33 Bảng 14: Cách dùng thuốc của các bà mẹ.33 Bảng 15: Đánh giá thực hành điều trị của các bà mẹ.33 Kênh thông tin.
33 Bảng 1: Thông tin tyuên truyền mà các ba mẹ đã nghe.33 Bảng 2: Kênh truyền thông mà bà mẹ đã nghe. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ trong dự phòng và chăm sóc trẻ bị TC. 34 Bảng 1: Mối liên quan giữa TĐHV của bà mẹ và hiểu biết về dự phòng và chăm sóc trẻ TC. 34 Bảng 2: Mối liên quan giữa TĐHV của bà mẹ và thực hành dự phòng, chăm sóc trẻ bị TC.34 Bảng 3: Mối Liên quan giữa số bà mẹ được nghe tuyên truyền và hiểu biết về dự phòng và chăm sóc trẻ bị TC.35 Bảng 4: Mối liên quan giữa số bà mẹ có hiểu biết kiến thức và thực hành dự phòng và chăm sóc trẻ bị TC.35 Bảng 5: Mối liên quan giữa việc tiêm phòng cho trẻ và tình trạng bệnh TC của trẻ35 vi TÓM TẪT LUẬN VÀN Trong những năm qua do điều kiện về kinh tế phát triển mạnh bên cạnh đó công tác truyền thông giáo dục sức khỏe thu được nhiều kết quả dáng mừng đã đóng góp không nhỏ trong quá trình chăm sóc nâng cao sức khỏe nhân dân.
Nhiều bệnh trước có tỷ lệ chết mác ở mức cao nay không còn là vấn đề nối cộm nữa, điều này được thấy rất rõ ở các nước phát triển. Bệnh tiêu chảy là một ví dụ dien hình trong đó. Nhưng ở các nước đang phát triển thì bệnh tiêu chảy tuy đã thuyên giảm hơn trước nhiều những vẫn là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc chết cao trong nhiều bệnh và có nguy cơ bùng nổ thành dịch bất cứ lúc nào. Điều này đã đặt ra cho các đơn vị chức năng trách nhiệm cần phải có nhiều giải pháp khả thi hơn nữa và quyết tâm hơn nữa giúp cho bệnh TC không còn là một vấn đề sức khỏe đáng quan tâm.
Mà đặc biệt cần chủ trọng đối với đổi tượng là trẻ nhỏ dưới 5 tuổi vì độ tuổi này là độ tuổi rất rễ mắc bệnh và khi mắc thì thường để lại các hậu qủa không the lường trước được vì tiêu chảy thường liên quan tới suy dinh dưỡng và suy sinh dưỡng thì lại liên quan đến sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của trẻ sau này. Huyện Kham Kớt thuộc tỉnh Bolikhamxay là một huyện nghèo của tỉnh và là một huyện miến núi với nhiều dân tộc cùng chung sống. Nơi đây vẫn còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu như tục ăn bốc, đi vệ sinh trên đồi, dùng phân tươi tưới cây. Bên cạnh đó kiến thức của các bà mẹ cũng được cho là một nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới tỷ lệ mẳc bệnh.
Đây là những yếu tố nguy cơ đã làm cho tỷ lệ trẻ nơi đây bị mắc tiêu chảy nhiều nhất trong số các huyện thuộc tỉnh. Chính vì lý do này mà chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “A/ớ tả kiến thức, thực hành của các bà mẹ trong dự phòng, chăm sóc trẻ dưới 5 tuối bị TC và một sô yếu tố liên quan tại huyện Kham kớt tỉnh Bolikhamxay, năm 2007’’ cho nghiên cứu của mình. Thông qua nghiên cứu chúng tôi cũng muốn chia sẽ các kết quả thu được tới các cấp chính quyền cũng như các ban ngành chức năng có liên quan đe tác động can thiệp. Trong nghiên cứu của mình chúng tôi cố gắng đo lường về kiến thức và thực hành của các bà mẹ để có một cái nhìn tổng quát về việc dự phòng cũng như chăm sóc cho trẻ dưới 5 tuối trước bệnh tiêu chảy.
Để qua dó có những khuyến nghị và những giải pháp khả thi làm giám tối đa các trẻ dưới 5 tuối mắc bệnh TC và làm giảm tối đa các tác động của tiêu chảy đối với sự phát triển bình thường của trẻ. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên 384 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 70 làng của huyện Kham Kớt thuộc tỉnh Bolikhamxay. Nghiên cứu thuộc loại mô tả căt ngang có phân tích. Nghiên cứu chọn mẫu chia làm 2 giai đoạn.
Kinh phí dự tính khoảng 8.000 đồng Việt Nam. 1 ĐẶT VÁN ĐÈ • Tiêu chảy (TC) là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hoá, bệnh xẩy ra ở mọi đổi tượng và mọi lứa tuổi nhưng đặc biệt chiếm tỷ lệ cao ở trẻ em dưới 5 tuổi. Từ lâu TC đã là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng cần được quan tâm, theo thống kê của Tố chức Y tể thể giới (WHO) thì trên thế giới trung bình mỗi trẻ mắc 3,3 lượt TC, đặc biệt ở một số vùng mồi năm trung bình trẻ mắc vượt quá 9 lượt, cũng theo thống kê cùa Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), thì mỗi năm tại các nước đang phát triến có gần 1 tỉ trẻ em bị TC, và sổ chết là gần 5 triệu. Như vậy, cứ mỗi phút qua đi, lại có 2.000 trẻ em bị TC và 10 trẻ chết vì căn bệnh này [3,10,12].
Tại những nơi mà TC vẫn còn là một bệnh phổ biến thì trên 15% thời gian sông của trẻ gắn liền với bệnh TC, có khoảng 80% các trường họp tử vong do TC xảy ra ở nhóm trẻ dưới 2 tuổi, 30% ở nhóm tuổi dưới 5 tuổi. Nguyên nhân chính gây tử vong là do cơ thể bị mất nước và điện giải. Theo Tổ chức Y tế thể giới cử 200 trẻ mắc bệnh thì có 1 trẻ chết và cứ có 100 trẻ chết thì có 70 trẻ chet do mất nước. TC là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới sự tâng trưởng của trẻ, nếu TC tái diễn, kéo dài làm cho tình trạng suy dinh dưỡng càng trầm trọng hơn và nguy cơ tử vong sẽ tăng theo cùng.
Bệnh không những có tỷ lệ mac chết cao mà còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triến ở trẻ nhỏ về tinh thần, thế chất tạo diều kiện cho sự nhiễm trùng khác[ 14,13], Theo thống kê trong các khoa của bệnh viện nhi 30% số giường bệnh là cho các bệnh nhân TC. Chi phí cho dự phòng và điều trị với các trang thiết bị hỗ trợ là rất lớn, chưa kể đến thời gian và sức lực của gia đình phải bỏ ra, như vậy nó không những gây ra tử vong mà còn là gánh nặng cho toàn xã hội về kinh tế đe doạ trực tiếp đến cuộc sống mỗi gia đình. Chính vì tầm quan trọng của bệnh TC như vậy năm 1978 (WHO) đã phát động chương trình phòng chống bệnh TC (CDD) với mục tiêu là giảm tỷ lệ tử vong và mac do TC gây ra ở trẻ em dưới 5 tuôi. Trọng tâm của chương trình là dựa trên nền tảng của việc bù dịch sớm bàng đường uống.
Thực tế có nhiều trường họp bệnh trầm trọng hoặc tử vong là do thiểu kiến thức của các bà mẹ trong việc phòng và xử trí, như vậy việc phòng bệnh TC vẫn còn là vấn đề quan tâm vì có nhiều yểu tố nguy cơ trước mắt và lâu dài nếu không kịp thời chặn đứng. [14] Lào là một nước có tình trạng kinh tế - xã hội, và điều kiện tự nhiên gần giong với Việt Nam. Trong những năm vừa qua, được sự chú ý quan tâm của Bộ Y tế, các sở y tể và tuyển y tế cơ sở nên có nhiều nghiên cứu được tiến hành, chương trình can thiệp được triển khai với nội dung quan tâin về thực trạng các yểu tổ liên quan đến bệnh TC trên nhiều vùng khác nhau, trong việc làm giảm số ca bị TC, số ca tử vong do TC gày ra và đặc biệt góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng quốc gia do TC của trẻ trong độ tuổi này. Tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực xong do 2 Lào là một nước đang phát triển, hơn nữa vẫn còn tồn tại phong tục lạc hậu như “ăn bốc, ở nhà sàn.” nên vì the bệnh TC vẫn còn phố biến.
Huyện Kham Kớt thuộc tỉnh Bolikhamxay là huyện thuộc phía nam của tỉnh, một huyện còn nghèo với 70 Làng, dân số chiếm 55502 (năm 2006) người với nhiều thành phần dân tộc cùng chung song, trình độ văn hóa còn thấp, vần còn nhiêu phong tục lạc hậu.