Chương I CƠ SỞ LY LUẬN VE QUAN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CUA TỎ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn để Lid. Ngoài nước Vẫn dé dạy học đã được nhiều nha triết học đồng thời là nha giáo dục ở các nước phương Đông và phương Tây nghiên cứu từ lâu đời. Có thé kế đến các tư tưởng vả công trình chủ yêu đưới đây: Ở phương Tây, Xôcrat (469 — 339 trước CN) cho rằng dé nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp “Giúp thế hệ trẻ từng bước khẳng định, tự phát triển tri thức mới mẻ, phủ hợp với chân ly” [18].
Ở phương Đông, Không Tử (551 — 479 trước CN) - cho rằng: “Dat nước phon sinh, yên bình thi người lãnh đạo đất nước can chú trọng tới 3 yếu tô: Thứ (lam cho dan đồng lên), Phú (làm cho dân giàu), Giáo (dan được giáo duc)”. Ông đã từng nói rang giáo dục là cần thiết cho mọi người “hữu giáo võ loại” (việc giáo dục không phân biệt đẳng cấp). Quan niệm về phương pháp dạy học (PPDH) của ông là dùng cách gợi mở, đi từ gin đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đỏi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải hình thành né nếp, thói quen trong học tập. Ông rat coi trọng việc tự học, tự rèn, tu thân phát huy mặt tích cực, học kết hợp với hảnh, trong dạy thì phải sát đối tượng, phát triển ý chí của người học.
Những phương pháp giáo dục nói trên cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học lớn trong QL nhà trường nói chung vả QL dạy học nói riêng [ 13]. Chính trong các công trình nghiên cửu của các nha nghiên cứu vẻ QLGD Xô Viết đã khẳng định: “Kết quả toàn bộ hoạt động QL của nhà trường phụ thuộc rat nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV”.Saxerđötöp di sâu nghiên cửu lãnh dao công tác giảng day, giáo dục trong nha trường va xem đây la khâu then chốt trong hoạt động QL của hiệu trưởng (HT) [20] - V.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu va dé ra một số vẫn dé QL của HT trường phố thông như phân cỗng nhiệm vụ của HT va phó hiệu trưởng (PHT), con V.Xukhomlinxki đặc biệt coi trọng sự trao đổi giữa HT và PHT để tìm ra cách QL tốt nhất. Tác giả cho rằng: “Trong những cuộc trao đổi nay như đòn bay, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác QL được phát triển trong lao động sảng tạo của tập thể sư phạm” [20].Xukhomlinxki còn chỉ rõ tim quan trọng của việc tổ chức dự giờ và nhân tích sư phạm bài dạy. Ông đã chỉ ra thực trạng yếu kém của việc phân tích sư pham bai dạy cho dù hoạt động dự giờ và gúp ý với GV sau git dự của nha QOL diễn ra thường xuyên.
Từ đó ông đã đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bai day cho GV [20]. Ở Nam Phi, Bộ Giáo dục Nam Phi đã yêu cầu các nhóm nghiên cứu GD quốc gia đưa ra bộ hướng dẫn về công tác QL hoạt động DH nhằm nâng cao chất lượng GD trong các trường THPT tir năm 2008. Điều nay cho thấy không chỉ các quốc gia phát triển, mà ngay cả các quốc gia đang phát triển cũng rat quan tâm nghiên cứu hoạt động dạy học, QL hoạt động đạy học nhằm hỗ trợ GV, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, GD các công dân tương lai của đất nước va tìm ra những biện pháp QL hữu hiệu, I 12. Trang nước Ngay từ năm 1945, Bác Hỗ đã có chỉ thị: “Sự học tập trong nhả trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh nién va thanh niên là tương lai của nước mình.
Vì vậy phải biết dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi, phải day cho họ có ý chi tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu lam nô lệ” [15]. Tư tưởng trên của Bác Hỗ gợi ý cho chủ the QL dạy học van đề: QL day học phải gắn liền với thé chế xã hội, né nếp day học, trình độ người day, năng lực tự học, tinh than độc lập suy nghĩ va tinh sang tạo của người học [15]. 15 Pang và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hang dau”, điêu nay đã được luật hoá trong Luật Giáo dục: “Phát triển giáo dục là quốc sách hang dau nhằm nâng cao dan trí, đảo tạo nhân lực, bôi dưỡng nhân tài” [4]. Tác giả Bùi Thị Yến Nhi, nghiên cứu vẻ ''Thực trạng hoạt động tổ chuyền môn của tổ trưởng tại các trường THPT huyện Tân Uyén, tỉnh Binh Dương”; Tác giả Huynh Hoang Thuan, nghién cứu “Thực trạng quản lý hoạt động day học tại các trường THPT thị xã Thuận An, tỉnh Binh Dương”.
Các nghiên cứu nay đã đưa ra kết luận, công tác quản ly chỉ đạo của TCM còn nhiễu bat cập, chủ yếu thực hiện công tác QL hành chính, hồ sơ số sách; xây dựng KH chưa chuyên sâu. Do đó các hoạt động của TCM không có tinh độc lập, chủ động, sáng tao, chất lượng hoạt động của TCM chưa cao, chưa phát huy hết mọi tiém năng thé mạnh của từng GV trong tổ dé từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả GD trong nha trường. Tém lại, có nhiều tác giả trên thé giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cửu va dé xuất biện pháp về tổ chức hoạt động day học va QL hoạt động day học trong nhà trường. Nhiều luận văn nghiên cứu về “QL hoạt động dạy học của TCM trong nhà trường” với nhiều mức độ và cách tiếp cận khác nhau.
Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có dé tai nào nghiên cứu về QL hoạt động day học của TCM tai các trường THCS quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chi Minh. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dé tài 1. Quản lý Bat kỳ một hợp tác lao động nào cũng cần tới QL.Max khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nao tiễn hành trên quy mô tương đổi lớn, thi ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo dé điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức ning chung phat sinh từ sự vận động của toan hộ cơ ché sản xuất. Một người độc tau vĩ cằm tự mình điều khiển lẫy mình, còn một dan nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [23].
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “QL là tác động có mục đích đến tập thể người dé tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao dong” [23]. 16 Theo quan điểm hoạt động của một to chức: “QL là tac động có mục đích, có KH của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nói chung lả khách thé QL nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến ” [9].1: Khải niệm quản [ý [23]. Như vậy, khai niệm QOL được các nha nghiên cứu đưa ra định nghĩa được gắn với loại hinh QL hoặc ở lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể, song đều thông nhất ở bản chất của hoạt động QL. Đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thẻ QL đến khách thé QL nhằm lam cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng KH hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý giáo đục QLGD là một bộ phận của QL xã hội. Nói đến QLGD là nói đến QL mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Các nhà nghiên cứu giáo dục và QLGD đã đưa ra một số quan niệm vẻ QLGD như sau: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có myc đích, có KH, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tat cả các mắt xích của hệ thống (tir cắp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chat lượng va hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đảo tạo thé hệ trẻ ma xã hội đặt ra cho ngành giáo dục [23]. QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên hệ thẳng giáo dục nhằm tao ra tinh trồi của hệ thong; sử dụng một cách tôi ưu các tiém năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiểu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với mỗi trường bên ngoài luôn luôn bien động [23].
* Doi với cắn vi ma 1? QLGD được hiểu là hệ thẳng những tác động tự giác (có ý thức, có mục dich, có KH, có hệ thông, hợp quy luật) của chủ thé QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh (HS), cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng vả hiệu quả mục tiêu gido dục của nha trưởng [23]. QLGD thực chất là những tác động của chủ thé QOL vào quá trình giáo dục (được tiễn hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành va phát triển toàn điện nhân cách HS theo mục tiêu đảo tạo của nha trường. Thuật ngữ “QL trường học/ nhà trường" có thé xem là đẳng nghĩa với QLGD thuộc tam vi mỗ. Đây là những tác động QL diễn ra trong phạm vi nha trưởng [23].
Từ điển giáo dục định nghĩa khái niệm QLGD: - QLGD là thực hiện việc QL trong lĩnh vực giáo dục. Ngay nay lĩnh vực giáo dục mở rộng nhiều hơn so với trước, do chỗ mở rộng đổi tượng giáo dục từ thể hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội. Tuy nhiên, giáo dục thể hệ trẻ vẫn là bộ nhận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội. - QLGD chủ yếu là QL, giáo dục thé hệ trẻ, giáo dục nha trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- QLGD gém hai mặt lớn là QL nha nước về giáo dục, QL nha trường và các cơ sở giáo dục khác. QLGD Ia việc thực hiện và giám sat những chính sách giáo dục đảo tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương va cơ sở. - QLGD còn là một ngành, một bộ phận khoa học có tinh chất liên ngành nhằm vận dụng những khoa học QL sao cho phù hợp với nhu câu và đặc điểm của hệ thông giáo dục. Từ các định nghĩa trên, người nghiên cứu hiểu QLGD là quá trình tác động có ý thức được định hướng của chủ thé OL lên các thành tổ của hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách hiệu quả.
Quản lý nhà trưởng Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục đảo tạo.