ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Dược là ngành kinh tế - kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, thực trạng nhân lực Dược hiện nay là thiếu ở hầu hết các loại hình, đặc biệt là trình độ đại học, sau đại học. Phân bố nhân lực Dược không đồng đều giữa các vùng miền và các lĩnh vực, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực kinh doanh. Tỷ lệ trung bình Dược sĩ đại học trong cả nước hiện đạt 1,76 Dược sĩ đại học/10.
Con số này cơ bản đáp ứng được chỉ tiêu mà Ðảng và Chính phủ đã giao cho ngành Y tế tại Quyết định số 153/2006/QÐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Nhiều chính sách của Nhà nước, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng tập trung chỉ đạo nhằm bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Đặc biệt là: Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về "Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới" [21]; Chỉ thị 06/CT-TW, ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới Y tế cơ sở [11]; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ về việc đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao [22]; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 [28]. Các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là cơ sở và tạo cơ hội đầu tư cho sự nghiệp Y tế ngày càng phát triển.
Công tác Y tế đã và đang đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. 3 Tuy nhiên, phân bố Dược sĩ không đồng đều, với hai Thành Phố lớn là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm đến 48,37% tổng số cán bộ Dược có trình độ đại học trên cả nước. Đồng thời nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta cũng đang đứng trước những nguy cơ đầy khó khăn và phức tạp mà mặt trái của cơ chế thị trường để lại. Trong lĩnh vực Y tế đó là sự thay đổi mô hình bệnh tật của các nước phát triển và các nước đang phát triển, đồng thời xuất hiện của nhiều loại bệnh mới, tính chất và mức độ nguy hiểm rất lớn đến tính mạng con người, mạng lưới Y tế chưa hoàn thiện và phát triển đồng bộ.
Nền kinh tế phát triển nhưng để lại sự phân tầng giàu nghèo quá chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa; sự chênh lệch về quyền lợi của các thành phần kinh tế khác nhau. Do vậy nguồn nhân lực về Y tế đã thiếu thì nay càng thiếu do tăng các cơ sở dịch vụ Y tế. Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đào tạo không đáp ứng với tại chỗ thì nay lại bị chi phối bởi quyền lợi ở các cơ sở khám chữa bệnh có thu nhập cao hơn, có khả năng phát triển tốt hơn, ở thành phố, vùng đồng bằng ngoài cơ sở công lập thu hút. Các Bác sỹ, Dược sỹ có trình độ, tay nghề giỏi cũng rời bỏ nơi làm việc cũ để tìm đến nơi có thu nhập cao hơn, nơi có điều kiện xã hội, môi trường công tác tốt hơn để sống và làm việc.
[7], [13] Hà Giang là một tỉnh miền núi nghèo, chính vì vậy mà ngành Y tế tỉnh Hà Giang đang trong tình trạng thiếu hụt về nguồn nhân lực Dược rất lớn. Thực tế từ năm 1996 cho tới nay mới có khoảng 3-4 Dược sỹ đại học chính quy khi tốt nghiệp đến Hà Giang làm việc. Đây là một thách thức và là bài toán khó về nguồn nhân lực đối với ngành Y tế tỉnh Hà Giang. Theo ước tính dân số của tỉnh đến năm 2015 là 790.388 người và năm 2020 là 848.
Để đạt được 2->2,5 DSĐH/10.000 dân, số Dược sĩ đại học tương 4 ứng là 170-210. Tính đến 31/12/2012 toàn tỉnh có 44 Dược sĩ đại học, đạt tỷ lệ 0,5 DSĐH/10. Để đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp về nguồn nhân lực Dược có trình độ đại học trở lên của ngành Y tế tỉnh Hà Giang, chúng tôi đã chọn đề tài:“Thực trạng nguồn nhân lực Dược ngành Y tế tỉnh Hà Giang và xây dựng giải pháp” nhằm ba mục tiêu: 1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Dược ngành Y tế tỉnh Hà Giang năm 2012.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực Dược ngành Y tế tỉnh Hà Giang. Đề xuất một số giải pháp giải quyết nhu cầu nhân lực Dược cho ngành Y tế tỉnh Hà Giang. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng nguồn nhân lực Dƣợc của ngành Y tế hiện nay 1.
Nguồn nhân lực 1. Khái niệm Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực về con người, biểu hiện khả năng lao động của xã hội và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh). NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
NNL là tổng hợp những cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này NNL bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi) [27], [43]. NNL được xem trên góc độ số lượng, chất lượng: - Số lượng NNL được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng NNL. - Chất lượng NNL được xem xét trên tất cả các mặt: Trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất [27], [46].
Theo mỗi phạm vi và quy mô, khái niệm NNL được định nghĩa một cách khác nhau. Trần Kim Dung định nghĩa : “NNL ở một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định” [32]. 6 - Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL của nó. - NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó.
- Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế; thể lực của con người còn phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, thái độ và nhân cách của từng con người. - Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai thác gần đến mức cạn kiệt.
Sự khai thác tiềm năng về trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Phân loại nguồn nhân lực * Căn cứ vào nguồn gốc hình thành. - NNL có sẵn trong dân số: theo thống kê của Liên hợp quốc, khái niệm này gọi là dân số hoạt động bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc [27], [44]. Độ tuổi lao động ở Việt Nam: + Giới hạn dưới: tròn tuổi 15 + Giới hạn trên: Nữ: tròn 55 tuổi, nam: tròn 60 tuổi - NNL tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế) 7 Số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong những ngành kinh tế và văn hóa xã hội [27], [45].
- NNL dự trữ: bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì lý do khác nhau, họ chưa có công việc làm ngoài xã hội. Những người làm công việc nội trợ gia đình: Khi điều kiện kinh tế của xã hội thuận lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội, họ có thể nhanh chóng rời bỏ hoạt động nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội. Đây là NNL đáng kể. Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp được coi là NNL dự trữ quan trọng và có chất lượng.
Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế. Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề) muốn tìm việc làm, sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế [27], [45]. * Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào nền sản xuất xã hội. - Bộ phận nguồn lao động chính: Bộ phận nhân lực nằm trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất.
- Các nguồn lao động khác: Là bộ phận nhân lực hàng năm được bổ sung thêm từ bộ phận xuất khẩu lao động, hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về [27], [44]. * Căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không. - Lực lượng lao động: Bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. 8 - Nguồn lao động: Bao gồm ngững người thuộc lực lượng lao động và những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm [27], [45].
Quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì QTNNL là quá trình phân tích, đánh giá, hoạch định, quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả NNL nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức [10].