Tổng quan luận án
Tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh là một trong mười mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe, sự phát triển và an ninh y tế toàn cầu theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới. Việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh không kiểm soát đã làm gia tăng nhanh chóng các chủng vi khuẩn kháng thuốc, trong khi tốc độ nghiên cứu và phát triển các kháng sinh mới bị chậm lại do hiệu quả kinh tế thấp. Số liệu ước tính năm 2019 cho thấy trên toàn cầu có khoảng 1,27 triệu ca tử vong trực tiếp do vi khuẩn kháng thuốc và 4,95 triệu ca tử vong có liên quan đến vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong đó, hai tác nhân vi khuẩn Gram âm đường ruột Escherichia coli (E. coli) và Klebsiella pneumoniae (K. pneumoniae) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và có tỷ lệ đa kháng rất cao.
Tại Việt Nam, phần lớn các chương trình giám sát và công trình nghiên cứu về kháng kháng sinh trước đây chỉ tập trung ở phạm vi bệnh viện (các khoa hồi sức tích cực hoặc khu điều trị nội trú). Dữ liệu về mức độ kháng thuốc của vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tại cộng đồng còn rất hạn chế; các nghiên cứu hiện có chủ yếu có quy mô nhỏ hẹp, chưa mang tính đại diện cho các vùng miền. Đồng thời, các bằng chứng thực nghiệm về mối liên quan giữa đặc điểm phân tử của vi khuẩn với kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh ở người và trong chăn nuôi tại tuyến cơ sở chưa được giải quyết đồng bộ.
Để giải quyết khoảng trống này, luận án tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 62 72 03 01) của nghiên cứu sinh Trần Thị Mai Hưng, thực hiện tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Huy Hoàng và PGS. Dương Thị Hồng, đã triển khai đề tài: "Thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở Việt Nam năm 2018-2019".
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tỷ lệ và đặc điểm kháng kháng sinh của một số loại vi khuẩn thường gặp của người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019.
- Mô tả thực trạng kiến thức và sử dụng kháng sinh của người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019.
- Xác định mối liên quan kiểu gen của một số chủng vi khuẩn kháng kháng sinh phổ rộng phân lập được từ người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh đến khám tại các trạm y tế xã; các chủng vi khuẩn (E. coli, Klebsiella spp.) phân lập được từ bệnh phẩm của người bệnh; các yếu tố kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của người bệnh và gia đình.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa tại các trạm y tế xã thuộc các tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung và Nam tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu và mẫu bệnh phẩm trong giai đoạn 2018 - 2019 (công trình bảo vệ năm 2022).
- Nguồn kinh phí: Nghiên cứu sử dụng kinh phí từ Đề tài khoa học cấp nhà nước "Đánh giá thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam, xác định đặc điểm cấu trúc gen và yếu tố liên quan của các vi khuẩn kháng thuốc thường gặp ở Việt Nam" (Mã số: MOST: NHQT/SPĐP/02 do TS. Trần Huy Hoàng làm chủ nhiệm).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát hiện kháng sinh và hiện tượng đề kháng từ các mốc thời gian: Vincenzo Tiberio (1895) phát hiện hoạt tính kháng khuẩn của nấm Penicillium, Alexander Fleming (1928) phát hiện penicillin và đưa vào sử dụng lâm sàng từ năm 1941, kèm theo lời cảnh báo tại lễ nhận giải Nobel (1945) về nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc khi tiếp xúc với liều không đủ.
Về gánh nặng bệnh tật toàn cầu, luận án tổng hợp các báo cáo quốc tế:
- Nghiên cứu công bố trên tạp chí The Lancet (2019) về gánh nặng tử vong do đề kháng kháng sinh: Châu Phi cận Sahara có gánh nặng cao nhất (27,3 ca tử vong do kháng thuốc/100.000 dân và 114,8 ca tử vong liên quan/100.000 dân); Châu Úc có gánh nặng thấp nhất (6,5 ca tử vong do kháng thuốc/100.000 dân và 28 ca tử vong liên quan/100.000 dân). Ba hội chứng nhiễm khuẩn chiếm 78,8% số ca tử vong gồm nhiễm trùng đường hô hấp dưới và lồng ngực (>400.000 ca tử vong trực tiếp), nhiễm trùng máu và nhiễm trùng trong ổ bụng. Sáu tác nhân gây tử vong cao nhất theo thứ tự gồm E. coli, Staphylococcus aureus, K. pneumoniae, Streptococcus pneumoniae, Acinetobacter baumannii và Pseudomonas aeruginosa (gây ra 929.000 ca tử vong trực tiếp và 3,57 triệu ca tử vong liên quan).
- Báo cáo năm 2021 của Hệ thống giám sát kháng kháng sinh toàn cầu (GLASS - WHO) trên 68 quốc gia khẳng định E. coli và K. pneumoniae là hai tác nhân phổ biến nhất có tỷ lệ đa kháng và gây nhiễm trùng huyết cao ở cả bệnh viện và cộng đồng.
Về vi khuẩn Klebsiella pneumoniae:
- Quá trình tiến hóa gen kháng: Phát hiện
blaSHV-1 và blaTEM-1 vào đầu thập niên 1960; gen sinh beta-lactamase phổ rộng (ESBLs) đầu tiên blaSHV-2 phát hiện tại Đức năm 1983; blaTEM-3 tại Pháp. Thập niên 1990–2000 ghi nhận 40% K. pneumoniae sinh ESBLs tại bệnh viện ở Israel và Tây Ban Nha. Thập niên 2000 chuyển dịch sang ưu thế của nhóm blaCTX-M, cùng sự xuất hiện của blaOXA, blaGES, blaSFO, blaPER, blaTLA, blaVEB.
- Carbapenemase:
IMP-1 phát hiện tại Nhật Bản năm 1991; KPC xuất hiện tại Hoa Kỳ năm 1996; sau đó là blaOXA-48 và blaNDM-1. Tại Hy Lạp, tỷ lệ K. pneumoniae sinh KPC tăng từ 0% (2003) lên 38,3% (2010). Tại Ý, ghi nhận 432/436 chủng kháng carbapenem mang gen KPC (2012-2014). Tại Trung Quốc, 63% chủng kháng carbapenem mang gen KPC (chủ yếu KPC-2, giai đoạn 2008-2011). Các sequence type (ST) chủ đạo gồm ST258 (Mỹ, Châu Âu) và ST11 (Trung Quốc, Đài Loan).
- K. pneumoniae tại Việt Nam: Tỷ lệ kháng carbapenem tại ICU 16 bệnh viện là 14,9% (2012-2013); tại ICU 3 bệnh viện Nhi là 55% trên tổng số ca nhiễm trùng bệnh viện.
- K. pneumoniae cộng đồng: Trung Quốc ghi nhận 16,5% sinh ESBLs (chủ yếu
blaCTX-M-14, blaCTX-M-15, blaCTX-M-3); Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận 47% trong nhiễm khuẩn tiết niệu cộng đồng; Ấn Độ ghi nhận tỷ lệ sinh ESBLs tăng từ 21,8% lên 45,7% (2015-2018), tỷ lệ mang MBL và blaNDM-1 tăng từ 8,4% lên 16,6%.
Về vi khuẩn Escherichia coli:
- Nghiên cứu SMART (2002-2011) trên 179 bệnh viện: E. coli chiếm 47,8% trong nhiễm khuẩn ổ bụng và 44,3% trong nhiễm khuẩn tiết niệu; tỷ lệ sinh ESBLs tại Châu Á và Trung Đông từ 30% đến 50%.
- Báo cáo ECDC (2016) tại 28 nước Châu Âu: Tỷ lệ kháng cephalosporin thế hệ 3 là 12,8% (88,4% sinh ESBLs); cao nhất tại Bulgaria (41,6%), Cyprus (30,2%), Ý (29,8%), Slovakia (29,7%); thấp nhất tại Iceland (4,2%), Na Uy (5,6%), Hà Lan (6,4%), Đan Mạch (6,6%).
- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Giai đoạn 2010-2013, tỷ lệ E. coli sinh ESBLs là 38,2% (Trung Quốc 66,6%, Thái Lan 49,8%, Việt Nam 47,9%). Tại Ấn Độ, tỷ lệ sinh ESBLs ở bệnh nhân ngoại trú cộng đồng là 48,76%, tương đương nội trú (44,35%).
- Tỷ lệ E. coli sinh ESBLs tại bệnh viện ở Việt Nam: Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đạt 45% (2011-2013) và 44,2% (2014-2016); mạng lưới VINARES tại 13 bệnh viện đạt 59% (2016-2017); Bệnh viện Đa khoa An Giang đạt 53,5% (2020-2021); Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đạt 32,2%; Bệnh viện Chợ Rẫy (2010) ghi nhận 53,7% ở mẫu bệnh phẩm và 76,4% ở mẫu phân người không nhiễm khuẩn tiêu hóa.
- Tỷ lệ mang E. coli sinh ESBLs ở người khỏe mạnh tại cộng đồng: Thụy Điển 5,8% (2013), Pháp tăng từ 0,6% (2006) lên 6% (2011), Đức 6,3% (2014), Trung Quốc 50,5% (2009), Thái Lan 61,7% (2008), Tunisia 7,3% (2009-2010). Tại TP.HCM (Việt Nam), tỷ lệ mang vi khuẩn sinh ESBLs ở nhân viên y tế là 70,7%, người nhà nhân viên y tế là 69,2%, sinh viên là 47,9% và người khỏe mạnh tại cộng đồng là 63,1%.
Về kiến thức và sử dụng kháng sinh:
- Khảo sát WHO (2015) tại 12 quốc gia: 70% nhầm lẫn kháng sinh trị viêm họng do virus, 64% nhầm lẫn với cảm cúm, 75% sử dụng thuốc do người thân đưa.
- Châu Âu (2016, 2018): 24% trả lời đúng cả 4 câu hỏi; 43% biết kháng sinh không diệt được virus.
- Thực trạng tự mua kháng sinh: Ấn Độ 79%, Pakistan 84%, Ả Rập Xê Út 78%, Nigeria 67%, Sudan 73-82%.
Khoảng trống luận án giải quyết: Cung cấp bức tranh dịch tễ học và sinh học phân tử có tính đại diện 3 miền về vi khuẩn kháng kháng sinh ở tuyến y tế cơ sở tại Việt Nam, kết nối với dữ liệu về nhận thức và hành vi sử dụng thuốc tại cộng đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên mô hình cây vấn đề xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng kháng kháng sinh tại cộng đồng, bao gồm 8 nhóm yếu tố:
- Yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới, dân tộc, hôn nhân, quy mô gia đình).
- Sự biến đổi vi sinh vật.
- Điều kiện vệ sinh môi trường kém và sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi bừa bãi.
- Thiếu kiến thức sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh.
- Thực hành kê đơn không đúng của nhân viên y tế.
- Thực hành sử dụng kháng sinh không đúng (tự mua, không tuân thủ liều/ngày).
- Khó tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng.
- Thái độ sử dụng kháng sinh không phù hợp.
Các khái niệm chuẩn hóa được áp dụng:
- Vi khuẩn đa kháng (MDR): Đề kháng với ít nhất 1 kháng sinh ở ≥ 3 nhóm kháng sinh khác nhau.
- Vi khuẩn kháng mở rộng (XDR): Đề kháng với ít nhất 1 kháng sinh ở tất cả các nhóm nhưng còn nhạy với 1-2 lớp kháng sinh.
- Vi khuẩn toàn kháng (PDR): Đề kháng với tất cả kháng sinh ở tất cả các lớp kháng sinh hiện có.
- Nhiễm trùng mắc phải tại cộng đồng: Nhiễm trùng xuất hiện bên ngoài bệnh viện hoặc cơ sở điều dưỡng.
| Nhóm kháng sinh |
Các gen kháng kháng sinh quan trọng |
| $\beta$-lactam |
AmpC; ESBLs (blaTEM, blaSHV, blaCTX-M); Carbapenemase nhóm A (KPC, SME, IMI, NMC, GES), nhóm B (NDM, IMP, VIM, SPM, GIM), nhóm D (OXA) |
| Aminoglycosid |
Gen methylase (armA, npmA, rmtA, rmtB, rmtC, rmtD); Gen enzyme biến đổi (AAC, ANT, APH) |
| Chloramphenicol |
CAT (catA, catB), cmlA, floR |
| Glycopeptid |
vanA, vanB (plasmid/NST); vanC1, vanC2/3, vanD, vanE, vanG (NST) |
| Quinolon |
Đột biến NST (gyrA, gyrB, parC, parE); Plasmid (qnrA, qnrB, qnrC, qnrD, qnrS, aac(6')-Ib-cr, qepA) |
| Sulfonamid & Trimethoprim |
Kháng sulfonamid (folP, sul1, sul2, sul3); Kháng trimethoprim (folA, dfrA, dfrB, dfrK) |
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa điều tra dịch tễ học thực địa và thực nghiệm vi sinh - sinh học phân tử chuyên sâu.
- Cỡ mẫu và thu thập số liệu:
- Khảo sát dịch tễ học cộng đồng: $n = 1.432$ người bệnh đến khám tại các trạm y tế xã thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam.
- Phân lập vi sinh: Thu thập $n = 691$ mẫu bệnh phẩm từ người bệnh.
- Phân tích kháng sinh đồ và phân tử: Phân tích các chủng E. coli ($N = 237$ chủng mang gen KKS; $N = 104$ chủng làm kháng sinh đồ chi tiết) và Klebsiella spp. ($N = 51$ chủng).
- Kỹ thuật vi sinh:
- Nuôi cấy, phân lập và định danh vi khuẩn theo quy trình chuẩn.
- Thử nghiệm độ nhạy cảm kháng sinh bằng kỹ thuật khoanh giấy khuếch tán trên thạch Mueller-Hinton (CLSI).
- Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và kỹ thuật E-test.
- Kỹ thuật sinh học phân tử:
- Kỹ thuật PCR: Phát hiện các gen kháng thuốc sinh ESBLs (
blaCTX-M, blaTEM, blaSHV), carbapenemase, aminoglycosid, quinolon.
- Phân tích plasmid: Tách chiết plasmid, phân loại nhóm plasmid bằng kỹ thuật PCR-based replicon typing (Carattoli et al., 2005) đối với các nhóm Inc chính (
FII, A/C, B/O, IncL/M...).
- Thử nghiệm tiếp hợp (Conjugation): Đánh giá khả năng truyền plasmid mang gen kháng từ chủng phân lập sang chủng E. coli nhận trong phòng thí nghiệm.
- Phân loại trình tự đa vị trí (MLST): Giải trình tự 7 gen bảo tồn (housekeeping genes) của E. coli gồm
adk, fumC, gyrB, icd, mdh, purA, recA (kích thước mỗi đoạn 450 - 500 bp) để xác định allele và kiểu trình tự Sequence Type (ST).
- Giải trình tự toàn bộ hệ gen (Whole Genome Sequencing - WGS / NGS) phân tích hệ thống gen kháng thuốc và đột biến.
- Xử lý số liệu: Thống kê mô tả và suy luận bằng phần mềm chuyên dụng; xây dựng cây phát sinh loài (phylogenetic tree) và biểu đồ nhiệt (heatmap) phân tích mối quan hệ di truyền.
| Gen bảo tồn (E. coli) |
Protein mã hóa |
Vị trí gen trên hệ gen E. coli MG1655 |
adk |
Adenylate kinase |
497175 - 497819 |
fumC |
Fumarate hydratase |
1685185 - 1686588 |
gyrB |
ADN gyrase |
3877705 - 3880119 |
icd |
Isocitrate/isopropylmalate dehydrogenase |
1195123 - 1196373 |
mdh |
Malate dehydrogenase |
3383330 - 3384268 |
purA |
Adenylosuccinate dehydrogenase |
4404687 - 4405985 |
recA |
ATP/GTP binding motif |
2822708 - 2823769 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 tổng thuật các cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm về kháng sinh và cơ chế kháng thuốc (ức chế tổng hợp vách, rối loạn màng nguyên tương, ức chế tổng hợp protein, acid nucleic và chất chuyển hóa). Luận điểm chính nhấn mạnh sự phân biệt giữa đề kháng tự nhiên mang tính loài và đề kháng thu được do đột biến hoặc nhận gen qua plasmid, transposon. Chương này phân tích chi tiết dịch tễ học và gánh nặng toàn cầu của E. coli và K. pneumoniae, cơ chế lây truyền plasmid ngang qua tiếp hợp, và vai trò của các kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, PFGE, Southern blot, MLST 7 locus, WGS) trong giám sát dịch tễ học kháng thuốc.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang tại các trạm y tế xã thuộc 3 miền Việt Nam. Cỡ mẫu khảo sát gồm 1.432 người bệnh và 691 mẫu bệnh phẩm. Chương này chuẩn hóa các kỹ thuật phòng xét nghiệm: khoanh giấy khuếch tán, E-test, MIC theo tiêu chuẩn CLSI; quy trình phản ứng PCR đa mồi; quy trình PCR-based replicon typing phân loại plasmid; quy trình giải trình tự 7 gen bảo tồn MLST; kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS); cùng các quy định về khống chế sai số, kiểm chuẩn chất lượng và đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và sinh học phân tử:
- Phân bố căn nguyên vi khuẩn theo loại bệnh phẩm ($n = 691$, $p < 0,001$) cho thấy sự hiện diện phổ biến của E. coli và Klebsiella spp. tại tuyến trạm y tế xã.
- Tỷ lệ kháng kháng sinh và mức độ đa kháng: Trong số các chủng E. coli ($N = 104$) và Klebsiella spp. ($N = 51$), tỷ lệ kháng cao được ghi nhận với các kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ cũ, fluoroquinolone, co-trimoxazole; tỷ lệ vi khuẩn đa kháng (MDR) chiếm tỷ trọng đáng kể tại cộng đồng.
- Đặc điểm sinh học phân tử: Phần lớn các chủng E. coli mang gen sinh ESBLs thuộc họ
blaCTX-M. Phân tích WGS xác định đồng thời nhiều nhóm gen kháng aminoglycosid, quinolon và sulfonamid.
- Phân tích plasmid và tiếp hợp: Xác định các nhóm plasmid phổ biến mang gen kháng (
IncFII, IncA/C...) và chứng minh thực nghiệm khả năng truyền ngang plasmid kháng kháng sinh sang chủng nhận trong phòng thí nghiệm.
- Đa dạng kiểu trình tự ST: Phân tích MLST trên 7 gen bảo tồn xác định các sequence type lưu hành tại cộng đồng và mối tương đồng di truyền qua cây phát sinh loài.
- Khảo sát kiến thức và sử dụng kháng sinh ($n = 1.432$): Tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về kháng sinh còn thấp; tình trạng nhầm lẫn kháng sinh điều trị được cảm cúm do virus phổ biến; thói quen tự mua thuốc không có đơn và sử dụng kháng sinh không đủ liều/ngày còn cao ở cả 3 miền.
- Thực trạng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi: Ghi nhận tỷ lệ cao hộ gia đình tự ý mua và trộn kháng sinh vào thức ăn/nước uống cho gia súc, gia cầm nhằm mục đích phòng bệnh và kích thích tăng trưởng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, so sánh kết quả nghiên cứu với các công bố trong nước và quốc tế. Tác giả luận giải cơ chế lan truyền các chủng E. coli và Klebsiella spp. sinh ESBLs tại cộng đồng thông qua tiếp hợp plasmid và áp lực chọn lọc từ việc lạm dụng kháng sinh. Phân tích các yếu tố liên quan khẳng định mối quan hệ giữa lỗ hổng kiến thức, hành vi tự mua thuốc, thói quen dùng kháng sinh trong chăn nuôi với nguy cơ mang vi khuẩn kháng thuốc. Mối liên hệ di truyền qua MLST và WGS cho thấy sự giao thoa kiểu gen giữa các chủng cộng đồng với các chủng từng gây bùng phát tại bệnh viện. Chương này cũng nêu rõ hạn chế của nghiên cứu cắt ngang và đưa ra các kiến nghị can thiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu đồng bộ, có tính đại diện đa vùng miền (Bắc - Trung - Nam) đầu tiên tại Việt Nam về thực trạng kháng kháng sinh của E. coli và Klebsiella spp. phân lập từ người bệnh đến khám tại trạm y tế xã năm 2018-2019.
- Làm rõ đặc điểm phân tử của các chủng vi khuẩn cộng đồng: Tỷ lệ mang gen sinh ESBLs (đặc biệt là nhóm
blaCTX-M), các nhóm plasmid mang gen kháng (IncFII, IncA/C, IncB/O, IncL/M), và khả năng truyền ngang gen kháng thuốc qua tiếp hợp.
- Xác định cấu trúc phả hệ di truyền qua giải trình tự 7 gen bảo tồn MLST và WGS, chứng minh mối liên hệ kiểu gen giữa các chủng vi khuẩn lưu hành ngoài cộng đồng với các chủng vi khuẩn trong bệnh viện tại Việt Nam và trên thế giới.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp bằng chứng thực địa về thực trạng thiếu hụt kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân (nhiều người vẫn cho rằng kháng sinh trị được cảm cúm do virus, tự ý chia sẻ thuốc) và tình trạng lạm dụng kháng sinh không kiểm soát trong chăn nuôi hộ gia đình.
- Là cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn 2013-2020 và cung cấp dữ liệu đầu vào cho việc xây dựng Chiến lược phòng chống kháng thuốc giai đoạn 2022-2030 của Bộ Y tế.
- Đề xuất các căn cứ thực tiễn để xây dựng phác đồ điều trị kinh nghiệm phù hợp tại tuyến y tế cơ sở, đồng thời thiết lập các can thiệp truyền thông và chính sách siết chặt quản lý bán thuốc kháng sinh không đơn tại cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả tại thời điểm 2018-2019, chưa theo dõi được động thái biến đổi kiểu gen và mức độ kháng thuốc theo chuỗi thời gian dọc.
- Nghiên cứu tập trung vào hai tác nhân vi khuẩn Gram âm phổ biến (E. coli và Klebsiella spp.) ở người bệnh đến khám tại trạm y tế xã, chưa mở rộng sang các chủng vi khuẩn Gram dương thường gặp khác hoặc khảo sát toàn diện người lành mang trùng trong quần thể chung.
- Số lượng chủng được phân tích bằng kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS/NGS) còn hạn chế do điều kiện chi phí và nguồn lực xét nghiệm chuyên sâu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Xây dựng mạng lưới giám sát dịch tễ học kháng kháng sinh thường quy và định kỳ tại tuyến y tế cơ sở.
- Mở rộng nghiên cứu đa tác nhân theo hướng tiếp cận Một sức khỏe (One Health), kết hợp đồng thời mẫu bệnh phẩm người, mẫu vật nuôi/thực phẩm và mẫu môi trường xung quanh trạm y tế và hộ gia đình.
- Tăng cường ứng dụng kỹ thuật giải trình tự hệ gen toàn bộ trên cỡ mẫu lớn hơn để theo dõi chi tiết đường truyền lây plasmid và các đột biến kháng thuốc mới phát sinh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu chuyên ngành Y tế công cộng, Vi sinh y học, Dịch tễ học và Bệnh truyền nhiễm: Tham khảo quy trình tích hợp giữa phương pháp dịch tễ học thực địa với các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại (PCR, MLST 7 locus, PCR-based replicon typing, WGS).
- Bác sĩ lâm sàng và cán bộ y tế tuyến trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện: Nắm bắt mô hình kháng thuốc thực tế của E. coli và Klebsiella spp. để lựa chọn kháng sinh hợp lý trong điều trị ban đầu cho người bệnh ngoại trú.
- Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Y tế, Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Sử dụng dữ liệu thực chứng để xây dựng chính sách quản lý bán lẻ thuốc kháng sinh, chương trình quản lý kháng sinh tại cộng đồng (AMS) và kiểm soát kháng sinh trong chăn nuôi.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu trên những tác nhân vi khuẩn nào và tại địa bàn nào?
Luận án tập trung nghiên cứu hai tác nhân vi khuẩn Gram âm đường ruột thường gặp là Escherichia coli và Klebsiella spp. phân lập từ người bệnh đến khám tại các trạm y tế xã thuộc các tỉnh đại diện cho cả 3 miền Bắc, Trung và Nam tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2019.
2. Quy mô mẫu nghiên cứu dịch tễ học và phân tích vi sinh của luận án là bao nhiêu?
Luận án thực hiện khảo sát dịch tễ học trên $n = 1.432$ người bệnh và người nhà đến khám tại trạm y tế xã; thu thập và phân tích $n = 691$ mẫu bệnh phẩm; phân tích chi tiết đặc điểm kháng thuốc và sinh học phân tử trên $N = 237$ chủng E. coli mang gen kháng thuốc ($N = 104$ chủng làm kháng sinh đồ chi tiết) và $N = 51$ chủng Klebsiella spp.
3. Các kỹ thuật sinh học phân tử nào đã được luận án sử dụng để xác định kiểu gen vi khuẩn?
Luận án đã áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử gồm: phản ứng PCR đa mồi phát hiện gen kháng thuốc (nhóm blaCTX-M, blaTEM, blaSHV...), kỹ thuật phân loại plasmid bằng PCR-based replicon typing, thử nghiệm tiếp hợp truyền plasmid trong phòng thí nghiệm, phân loại trình tự đa vị trí (MLST) trên 7 gen bảo tồn (adk, fumC, gyrB, icd, mdh, purA, recA), và kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS/NGS).
4. Khảo sát 1.432 đối tượng đã chỉ ra những tồn tại chính nào về kiến thức và thực hành dùng kháng sinh?
Khảo sát cho thấy tỷ lệ người dân hiểu đúng về kháng sinh còn thấp; đa số người bệnh nhầm lẫn kháng sinh có tác dụng điều trị bệnh do virus (như cảm lạnh, cảm cúm, viêm họng thông thường); tình trạng tự mua kháng sinh không có đơn tại các hiệu thuốc tư nhân, tự ý dừng thuốc khi thấy đỡ triệu chứng và sử dụng thuốc kháng sinh của người khác chia sẻ diễn ra phổ biến ở cả 3 miền.
5. Luận án ghi nhận thực trạng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi tại cộng đồng như thế nào?
Nghiên cứu ghi nhận tại các hộ gia đình ở cộng đồng 3 miền có tỷ lệ cao sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm mà không có sự kê đơn hay hướng dẫn của cán bộ thú y, chủ yếu dùng với mục đích tự phòng bệnh và kích thích tăng trưởng, tạo áp lực chọn lọc làm lan truyền gen kháng thuốc ra môi trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Mai Hưng đã giải quyết khoảng trống dữ liệu về thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli và Klebsiella spp. tại tuyến y tế cơ sở ở cả 3 miền Việt Nam giai đoạn 2018-2019. Công trình đã kết hợp thành công phương pháp điều tra dịch tễ học mô tả cắt ngang với các kỹ thuật sinh học phân tử chuyên sâu (PCR, MLST, phân tích plasmid, WGS) để làm rõ cơ chế di truyền và sự lan truyền gen kháng thuốc trong cộng đồng. Đồng thời, luận án đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về khoảng trống kiến thức, hành vi lạm dụng kháng sinh ở người và trong chăn nuôi, đóng góp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc hoạch định Chiến lược phòng chống kháng thuốc giai đoạn 2022-2030 tại Việt Nam.