Chương 1: Lí luận chung về bảo hiểm y tế và chi trả chỉ phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân có thẻ BHYT. - Chương 2: Thực trạng khám chữa bệnh và chi trả chỉ phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân có thẻ BHYT tại bệnh viện đa khoa huyện Gia lộc tỉnh Hải Dương giai đoạn 2009-2013. - Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác khám chữa bệnh và chỉ trả chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân có thẻ BHYT tại bệnh viện da khoa huyện Gia Lộc. Em xin cảm ơn cô giáo Th.S Bùi Quỳnh Anh, ông Lê Văn Lich phó giám đốc BHXH huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương.
ông Phạm Văn Nhiệm kế toán viên BHYT tại bệnh viện đa khoa huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành tốt nhất đề tài này. Do những hạn chế trong kiến thức về lý luận và thực tiễn nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong cô giáo Bùi Quỳnh Anh hướng dẫn và đóng góp ý kiến để em hoàn thiện tốt hơn chuyên dé của mình. Em xin chân thành cảm ơn côi Sinh viên Nguyễn Thị Thanh Huyền SV: Nguyễn Thị Thanh Huyền th Lớp: BHXH Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Bùi Quỳnh Anh CHUONG 1 LÍ LUẬN CHUNG VE BẢO HIẾMY TE VA CHI TRA CHI PHÍ KHAM CHUA BENH CHO BENH NHAN CO THE BHYT 1. Những van dé chung về BHYT Như chúng ta đã biết BHYT là một trong những chính sách An sinh xã hội quan trọng của Nhà nước và Chính phủ, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu đưa vào thực hiện từ năm 1992, Trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng địn h được tính đúng đắn và vai trò to lớn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới toàn diện và phát triển của đất nước. BHYT góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh cũng như tro ng thu nhập với vai trò phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia. Người lao động, người sử dụng lao động nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung ngày càng nhận thức day đủ hon về sự cần thiết của BHYT đối với cuộc sống cũng như kinh tế xã hội đất nước cũng như có ý thức hơn về việc tích lũy cho tương lai qua việc tham gia đóng góp tạo quỹ BHYT. Đồng thời thông qua BHYT người dân cũng ý thức hơn về trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng xã hội.
Chính vì vậy BHYT đang ngày càng được triển khai sâu rong, thiết thự c và hiệu quả hơn. Hoàn thiện chính sách BHYT tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta hướng tới thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh cho nhân dân, và tiế n tới mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2020. Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm BHYT vì thế chưa thể có một khái niệm nhất quán về vấn đề này.
Tuy nhiên có thể tham khảo một số quan điểm như sau: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “ BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồ ng xã hội dé chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân". Cũng như hau hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc chính sách An sinh xã hội và là loại hình bảo hiém phi lợi nhuận, nhằm đả m bảo chỉ phí y tế cho những người tham gia khi họ gặp phải rủi ro, 6m đau hay bệ nh tật. Theo Luật BHYT do Quốc hội nước ta ban hành ngày 14/11/2008 đị nh nghĩa rằng: “ BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật”. Về nội du ng cơ bản, BHYT được SV: Nguyễn Thị Thanh Huyền 3 Lóp: BHXH Chuyên dé thực tập tot nghiệp GVHD: Th.S Bùi Quỳnh Anh hiểu là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập hiện tại của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ BHYT do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật phát sinh chỉ phí y tế, họ sẽ không phải trực tiếp trả cho các khoản chỉ phí đó.
Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ thanh toán toàn bộ hay một phần khoản chỉ phí này theo quy định cụ thể của Luật BHYT. Như vậy về bản chất xã hội. BHYT là sự tập hợp có tổ chức của các thành viên xã hội nhằm chống lại những biến có, rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân, Về bản chất kinh tế, có thể khẳng định rằng BHYT không nhằm mục đích kinh doanh để thu được lợi nhuận nhưng lại là công cụ thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội giữa những người tham gia với nhau. Sự ra đời và phát triển BHYT Có thé khang định chắc chắn rằng BHYT được ra đời là hoàn toàn cần thiết và khách quan.
Bởi vì đối với con người sinh lão bệnh tử là một quy luật tất yếu của tự nhiên. Con người chúng ta tồn tại luôn chịu sự tác động của môi trường xung quanh cũng như các quy luật tự nhiên đó hay hiểu đơn giản hơ n đó là con người chúng ta có sinh ra thì không tránh khỏi ốm đau bệnh tật thậm chí cái chết. Hơn nữa con người còn phải luôn sống và tồn tại dưới tác động của khí hậu của tự nhiên. Đặc biệt xã hội càng phát triển loài người lại chịu thêm những ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu do sản xuất công nghiệp gây nên.
Thêm vào đó sự lao động của con ng ười ngày nay không chỉ đơn thuần như trước mà còn ở cả những nơi nguy hiểm độc hại như ham mỏ, dưới lòng đại dương hay ở trong những nhà má y phóng xạ. Môi trường sống và lao động có tác động lớn tới sức khỏe của con ngườ i do đó ốm đau bệnh tật là không thể tránh khỏi. Từ thực tế trên để phục vụ cho việc con người muốn cải tạo và nâng ca o sức khỏe cũng như kéo dài tuổi thọ y học đã xuất hiện từ rất sớm. Tuy nhiên ban đầu chỉ ở mức sơ khai nhất là sử dụng những loại cây cỏ, lá rừng làm thuốc chữa bệnh, theo kinh nghiệm dần dần những lương y chuyên làm nghề bốc thuốc ch ữa bệnh đã ra đời.
Nhưng số lượng này cũng không nhiều và phần lớn là chữa bệ nh theo kinh nghiệm truyền lại từ những đời trước chứ không được đào tạo có hệ thống. Và chỉ phí cho những lần khám chữa bệnh như vậy thì không hề nhỏ nên không phải ai cũng có thể chỉ trả. Sau đó cùng với sự phát triển củ a xã hội loài người qua các thời kì của chế độ xã hội y học dần được hình thành và phát tri ển nhanh chóng. Đến thời kì kinh tế xã hội phát triển, cơ sở vật chất xã hội được tăng lên , con người ngày càng chú trọng hơn tới sức khỏe của bản thân điều này làm cho nhu cầu về khám SV: Nguyễn Thị Thanh Huyền - 4 Lóp: BHXH Chuyên dé thực tập tot nghiệp GVHD: Th.S Bùi Quỳnh Anh chữa bệnh cũng tăng lên.
Thêm vào đó ngày càng xuất hiện nhiều dịch bệnh hay những loại bệnh đặc biệt nguy hiểm làm cho chỉ phí khám chữa bệnh vượt quá khả năng chỉ trả của cá nhân từng bệnh nhân. Điều này đã thúc đây sự tích lũy thu nhập cho chi phí khám chữa bệnh từ đó BHYT ra đời. Sự ra đời và phát triển BHYT trên thế giới BHYT ra đời đầu tiên tại nước Phổ (Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay) vào năm 1882, đã bước đầu giúp cho những người tham gia và gia đình họ giảm bớt được gánh nặng chí phí y tế cùng như đảm bảo thu nhập tối thiểu cho cuộc sống của họ. Hiện nay, Cộng hòa Liên bang Đức vẫn được coi là quốc gia thành công nhất trong việc thực hiện chính sách BHYT.
Tại nước này có hai loại hình BHYT gồ m công và tư nhân đang tồn tại và phát triển: BHYT công là hình thức bảo hiểm mang tính chất nghĩa vụ bắt buộc, hoạt động theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng: người giàu hỗ trợ người nghèo, người không có con hoặc ít con hỗ trợ tài chính cho người có con, nhiều con. BHYT tư nhân được coi là mang hình thức như bảo hiểm thương mại, bảo hiểm cho những rủi ro cá nhân. Đến năm 2007 được đánh dấu là năm nước Đức đã cơ bản hoàn thành mục tiêu Bảo hiểmy tế toàn dân. Khi đó toàn bộ người dân của Đức (khoảng 82 triệu người) có thẻ bảo hiểm y tế.
Mặc dù vậy, tại đây vẫn còn một bộ phận dân cư không thể tiếp cận được với Bảo hiểm y tế, họ là những người nước ngoài nhập cư trái phép vào Đức (ước tính có khoảng 300.000 đến 1 triệu người). Đối với những đối tượng này khi đi khám chữa bệnh tại các bệnh viện, họ van nhận được sử dụng các dịch vụ y tế mà khô ng được BHYT trả tiền, tuy nhiên bệnh viện sẽ báo lên cơ quan bảo hiểm xã hội, và cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ báo lên cơ quan công an dé giải quyết. Vi lý do đó mà người nhập cư trái phép không muốn đến bệnh viện ngay cả khi họ cần đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đây chính là điểm yếu lớn nhất trong hệ thống BHYT của Đức.
Vi vậy để giải quyết hiện tượng trên, ở Đức đã thành lập những Quỹ tín thác (Trust Fund) do tư nhân đóng góp dé hỗ trợ cho nhóm đối tượng này. Như vậy nước Đức được coi là cái nôi của BHYT. BHYT ra đời và đã phát triển nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới. Hiện nay hầu hết các nước đều thực hiện chế độ BHYT tuy nhiên ở mỗi nước lại thực hiện dưới những hình thức khác nhau, có nước BHYT nằm trong hệ thống BHXH và có những nước BHYT là một hệ thống độc lập.
điển hình như: a.