Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thalassemia (bệnh tan máu bẩm sinh) là nhóm bệnh lý rối loạn tổng hợp huyết sắc tố (Hemoglobin) di truyền do giảm hoặc mất khả năng tổng hợp một hay nhiều chuỗi globin. Tại Việt Nam, tỷ lệ mang gen và mắc bệnh phân bố khắp cả nước, tập trung nhiều ở các vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số với tỷ lệ dao động từ 5% đến 21%. Ước tính có trên 5 triệu người mang gen bệnh và mỗi năm có hơn 2.000 trẻ sinh ra mắc Thalassemia.

Phương pháp điều trị cơ bản hiện nay vẫn dựa vào truyền khối hồng cầu định kỳ kết hợp thuốc thải sắt. Tình trạng truyền máu nhiều lần cùng sự tăng hấp thu sắt qua đường tiêu hóa dẫn đến biến chứng ứ sắt tại nhiều cơ quan, gây suy tim (chiếm tới 60% nguyên nhân tử vong), xơ gan, đái tháo đường và suy giảm phát triển thể chất. Do đây là bệnh lý mạn tính phải theo dõi suốt đời, chất lượng cuộc sống của người bệnh phụ thuộc lớn vào chất lượng chăm sóc của nhân viên y tế tại bệnh viện và năng lực tự chăm sóc, tuân thủ điều trị tại nhà.

Khoa Huyết học lâm sàng thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình được thành lập từ tháng 2 năm 2018, quản lý và điều trị thường xuyên trên 60 người bệnh Thalassemia ở các mức độ. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2022, bệnh viện chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát toàn diện về thực trạng công tác chăm sóc cũng như hành vi tự chăm sóc của người bệnh. Do đó, chuyên đề "Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh Thalassemia tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2022" được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu:

  1. Mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh Thalassemia tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2022.
  2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác chăm sóc người bệnh Thalassemia tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình.

Nghiên cứu được triển khai trên 62 người bệnh Thalassemia đang điều trị nội trú và 05 điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc tại khoa Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình trong thời gian từ ngày 07/05/2022 đến ngày 07/07/2022.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu dựa trên các căn cứ lý luận lâm sàng và quy định quản lý điều dưỡng hiện hành:

  • Cơ chế bệnh học di truyền và lâm sàng Thalassemia: Phân loại theo thể khiếm khuyết chuỗi globin ($\alpha$-Thalassemia, $\beta$-Thalassemia) hoặc phối hợp biến thể huyết sắc tố (HbE, HbCs). Phân loại mức độ thiếu máu theo nồng độ Hemoglobin (Hb): nhẹ (90–120 g/L), trung bình (60–<90 g/L), nặng (30–<60 g/L) và rất nặng (<30 g/L). Tiêu chuẩn truyền máu (khi Hb < 70 g/L qua 2 lần xét nghiệm cách nhau > 2 tuần hoặc 70–90 g/L kèm biến chứng) và chỉ định thải sắt (Ferritin huyết thanh $\ge$ 800 ng/mL hoặc đã truyền $\ge$ 10 đơn vị máu).
  • Quy trình điều dưỡng: Áp dụng quy trình chăm sóc 5 bước (nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, lượng giá) theo quy định tại Thông tư số 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế về hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện.
  • Thuyết tự chăm sóc (Self-care Deficit Theory): Vận dụng mô hình của Dorothea Orem, tiếp cận theo định hướng người bệnh là trung tâm, trao quyền cho người bệnh tự theo dõi triệu chứng, quản lý dùng thuốc và duy trì chế độ dinh dưỡng, vận động thích hợp.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Quan sát thực hành điều dưỡng: Sử dụng bảng kiểm chuẩn hóa quan sát 05 điều dưỡng thực hiện quy trình chăm sóc trên 62 người bệnh (gồm: nhận định tình trạng, can thiệp điều dưỡng, chăm sóc tinh thần và tư vấn giáo dục sức khỏe).
    • Phỏng vấn người bệnh: Bộ câu hỏi cấu trúc gồm thông tin chung, nguồn tiếp cận thông tin và thang đo hành vi tự chăm sóc (10 câu hỏi chia thành 4 nhóm: chế độ ăn uống, luyện tập, theo dõi biến chứng, tuân thủ dùng thuốc). Thang điểm từ 10 đến 40 điểm, phân loại: Tốt (32–40 điểm), Khá (26–31 điểm), Trung bình (10–25 điểm).
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu được mã hóa, nhập liệu và xử lý thống kê y học bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa kiến thức tổng quan về sinh lý bệnh học Thalassemia, các tổn thương mô do tan máu mạn tính và quá tải sắt. Tác giả tổng hợp các biến chứng chính bao gồm: biến dạng xương sọ/mặt do tăng sinh tủy, suy tim, suy gan, xơ gan do ứ sắt hoặc lây nhiễm virus viêm gan B, C qua truyền máu, rối loạn nội tiết (suy tuyến yên, đái tháo đường, suy tuyến sinh dục) và cường lách.

Về mặt thực tiễn, chương này đối chiếu các công trình nghiên cứu trước đó tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2017) tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy bệnh nhi Thalassemia thường nhập viện trong tình trạng thiếu máu nặng, Ferritin trung bình đạt 2.398 ng/mL, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao.
  • Nghiên cứu của Thân Thị Thùy Linh (2019) và Đỗ Thị Quỳnh Mai (2010) ghi nhận nồng độ Hb trung bình trước truyền máu ở ngưỡng thấp (6,6–6,9 g/dL), phản ánh chất lượng cuộc sống và khả năng tự theo dõi tại nhà còn hạn chế.
  • Đề tài của Nguyễn Thị Tú Ngọc (2016) chứng minh vai trò của giáo dục sức khỏe khi nâng tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chăm sóc khá từ mức ban đầu lên 78,1%.
  • Khảo sát của Nguyễn Thị Thu Hường (2021) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ chỉ ra tỷ lệ tuân thủ điều trị chung đạt 57%, tuân thủ dùng thuốc đạt 87,9% và tuân thủ tái khám đạt 72,9%.

Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết

Chương này giới thiệu tổng quan về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình (bệnh viện đa khoa hạng I quy mô 1.200 giường) và khoa Huyết học lâm sàng (20 giường kế hoạch, 27 giường thực kê, điều trị 290 lượt người bệnh Thalassemia trong 6 tháng đầu năm 2022 với 8 điều dưỡng). Đồng thời, chương trình bày chi tiết kết quả khảo sát định lượng trên 62 người bệnh và 05 điều dưỡng.

Số liệu khảo sát phản ánh thực trạng người bệnh Thalassemia tại tuyến tỉnh đa số là nữ (74,2%), độ tuổi dưới 39 chiếm 43,5%, trình độ học vấn chủ yếu từ trung học cơ sở trở xuống (74,2%), nghề nghiệp tập trung ở nhóm nông dân (41,9%) và công nhân (37,1%). Phần lớn người bệnh có thời gian phát hiện bệnh trên 5 năm (72,6%). Về mặt lâm sàng, 95,1% người bệnh nhập viện có biểu hiện da xanh niêm mạc nhợt, 90,3% hoa mắt chóng mặt; nồng độ Hb trung bình trước truyền là 85,0 $\pm$ 20,3 g/L; Ferritin trung bình là 885,9 $\pm$ 675,0 ng/mL, trong đó 80,6% có chỉ định dùng thuốc thải sắt.

Chương 3: Bàn luận

Tác giả đi sâu phân tích, so sánh kết quả nghiên cứu với y văn:

  • Tỷ lệ người bệnh đạt mức tự chăm sóc khá và tốt chiếm tới 93,6%, giúp nồng độ Hb trung bình trước truyền (85,0 g/L) duy trì cao hơn so với nghiên cứu của Thân Thị Thùy Linh tại Bệnh viện Nhi Trung ương (69 g/L). Nguyên nhân do người bệnh trưởng thành tại địa phương có điều kiện đi lại tái khám thuận lợi hơn.
  • Công tác điều dưỡng ghi nhận việc thực hiện y lệnh truyền máu, dùng thuốc và xử trí tai biến đạt tuyệt đối 100%, thái độ giao tiếp ân cần đạt 96,8%. Tuy nhiên, việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn còn thiếu sót (11,3% chưa đếm nhịp thở).
  • Phân tích ưu điểm và tồn tại: Bệnh viện đã áp dụng Thông tư 31/2021/TT-BYT và Quyết định 6858/QĐ-BYT nhưng đang đối mặt với tình trạng quá tải, thiếu nhân lực điều dưỡng, thiếu tài liệu truyền thông trực quan sinh động (pano, áp phích, tờ rơi chuyên biệt về Thalassemia phải nhận từ Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương) và đôi lúc thiếu thuốc thải sắt tại tuyến tỉnh. Về phía người bệnh, việc duy trì tập luyện thể dục thể thao còn thấp (71,0% chỉ thỉnh thoảng tập luyện).

Kết quả và đóng góp

Dữ liệu thực trạng công tác chăm sóc và tự chăm sóc

Nội dung khảo sát Chỉ số định lượng cụ thể Tỷ lệ (%)
Đặc điểm lâm sàng & xét nghiệm (n=62) Da xanh, niêm mạc nhợt khi vào viện 95,1% (59 NB)
Hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi 90,3% (56 NB)
Nồng độ Hb từ 60 đến <90 g/L (thiếu máu trung bình) 59,7% (37 NB)
Nồng độ Hb từ 90 đến 120 g/L (thiếu máu nhẹ) 35,5% (22 NB)
Người bệnh có chỉ định truyền máu 64,5% (40 NB)
Người bệnh xảy ra phản ứng/tai biến truyền máu 12,9% (8 NB)
Ferritin huyết thanh $\ge$ 800 ng/mL (có chỉ định thải sắt) 80,6% (50 NB)
Thực hành chăm sóc của điều dưỡng (n=5) Thực hiện y lệnh thuốc, truyền máu, xử trí diễn biến 100,0% Đạt
Đặt người bệnh ở tư thế thích hợp 95,1% Đạt
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn đầy đủ 88,7% Đạt (11,3% thiếu)
Giao tiếp ân cần, cảm thông với người bệnh 96,8% Đạt
Tư vấn giáo dục chế độ ăn uống 96,8% Đạt
Tư vấn trước khi ra viện 91,9% Đạt
Hướng dẫn vận động, thể dục 87,1% Đạt
Hướng dẫn sử dụng thuốc tại nhà 83,9% Đạt
Hướng dẫn vệ sinh cá nhân 82,2% Đạt
Hành vi tự chăm sóc của người bệnh (n=62) Thường xuyên hạn chế thức ăn giàu sắt (thịt đỏ, rau đậm) 96,8% (60 NB)
Uống nước chè xanh sau ăn hạn chế hấp thu sắt 87,0% (79,0% thường xuyên; 8,0% luôn luôn)
Thỉnh thoảng mới bổ sung canxi (sữa, chế phẩm sữa) 80,6% (50 NB)
Chỉ thỉnh thoảng tập luyện thể lực 71,0% (44 NB)
Thường xuyên theo dõi diễn biến cơ thể 98,4% (61 NB)
Tái khám định kỳ theo hẹn của bác sĩ 87,1% (40,3% luôn luôn; 46,8% thường xuyên)
Mức độ thực hành tự chăm sóc chung: Khá 72,6% (45 NB)
Mức độ thực hành tự chăm sóc chung: Tốt 21,0% (13 NB)
Mức độ thực hành tự chăm sóc chung: Trung bình 6,4% (4 NB)

Hệ thống giải pháp đề xuất từ nghiên cứu

  1. Giải pháp cấp bệnh viện:
    • Ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ người bệnh Thalassemia mạn tính, kết nối tổ chăm sóc khách hàng gọi điện nhắc lịch tái khám và tư vấn từ xa.
    • Bổ sung định biên nhân lực điều dưỡng tại khoa Huyết học lâm sàng nhằm giảm áp lực quá tải.
    • Xây dựng góc truyền thông, bổ sung tài liệu trực quan, pano, áp phích, tờ rơi hướng dẫn chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng chuyên biệt.
    • Định kỳ 3 tháng/lần tổ chức đào tạo kỹ năng tư vấn giáo dục sức khỏe, sinh hoạt chuyên môn điều dưỡng 1 tháng/lần và tổ chức hội thi giao tiếp ứng xử 1 lần/năm.
  2. Giải pháp đối với nhân viên y tế:
    • Tăng cường thời lượng tư vấn trực tiếp, kết hợp thị phạm trực quan bằng hình ảnh, video minh họa; phân loại đối tượng người bệnh theo trình độ nhận thức để cá thể hóa nội dung giáo dục sức khỏe.
    • Kiểm tra lại kỹ năng thực hành tự chăm sóc của người bệnh trước khi xuất viện, lập sổ theo dõi cá nhân.
  3. Giải pháp đối với người bệnh và gia đình:
    • Nâng cao ý thức tuân thủ dùng thuốc thải sắt và lịch truyền máu định kỳ, ghi chép tác dụng phụ báo cho bác sĩ.
    • Điều chỉnh thói quen dinh dưỡng (hạn chế sắt, bổ sung vi chất hợp lý) và duy trì chế độ vận động thể lực thường xuyên phù hợp với thể trạng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Cỡ mẫu còn nhỏ ($n = 62$ người bệnh và $n = 05$ điều dưỡng) do giới hạn thời gian thực hiện chuyên đề tốt nghiệp trong 02 tháng (tháng 5 đến tháng 7 năm 2022).
    • Phạm vi nghiên cứu gói gọn tại một khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, chưa mở rộng so sánh liên viện với các bệnh viện tuyến huyện hoặc các trung tâm huyết học khác trong khu vực.
    • Nghiên cứu dừng lại ở mức độ mô tả cắt ngang thực trạng, chưa thực hiện can thiệp giáo dục sức khỏe có đối chứng để đánh giá mức độ cải thiện hành vi tự chăm sóc theo thời gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Triển khai các nghiên cứu can thiệp điều dưỡng có nhóm chứng, đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe cá thể hóa đối với chỉ số Ferritin và nồng độ Hemoglobin của người bệnh Thalassemia.
    • Khảo sát sâu hơn về gánh nặng kinh tế và chất lượng cuộc sống (Health-Related Quality of Life) ở người bệnh Thalassemia trưởng thành tại tuyến y tế cơ sở.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề cung cấp nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích cho:

  • Học viên, sinh viên ngành Điều dưỡng: Tham khảo cấu trúc một báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng chuyên khoa I chuẩn mực, phương pháp xây dựng bảng kiểm quan sát quy trình chăm sóc và thiết kế bộ công cụ đánh giá hành vi tự chăm sóc theo thuyết Orem.
  • Điều dưỡng viên lâm sàng khoa Huyết học: Ứng dụng trực tiếp bảng kiểm nhận định, quy trình theo dõi truyền máu, các điểm cần lưu ý khi đo dấu hiệu sinh tồn và nội dung tư vấn dinh dưỡng giảm ứ sắt cho người bệnh Thalassemia.
  • Cán bộ quản lý điều dưỡng bệnh viện: Sử dụng các dữ liệu về tỷ lệ thiếu sót dấu hiệu sinh tồn, nhu cầu tài liệu truyền thông để xây dựng kế hoạch đào tạo lại và cải tiến chất lượng chăm sóc theo Thông tư 31/2021/TT-BYT.

Câu hỏi thường gặp

1. Đặc điểm nhân khẩu học nổi bật của người bệnh Thalassemia trong nghiên cứu này là gì?

Trong số 62 người bệnh khảo sát tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, nữ giới chiếm đa số với 74,2% (nam chiếm 25,8%). Độ tuổi trung bình là 45,5 $\pm$ 20,4 tuổi (nhóm $\le$ 39 tuổi chiếm 43,5%). Trình độ học vấn của người bệnh chủ yếu ở mức thấp với 74,2% từ trung học cơ sở trở xuống (tiểu học 25,8%, THCS 48,4%), nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (41,9%) và công nhân (37,1%).

2. Tình trạng thiếu máu và quá tải sắt của người bệnh khi nhập viện ra sao?

Nồng độ Hemoglobin trung bình khi nhập viện là 85,0 $\pm$ 20,3 g/L. Đa số người bệnh ở mức độ thiếu máu trung bình (59,7%) và thiếu máu nhẹ (35,5%), thiếu máu nặng chiếm 4,8%. Có 64,5% người bệnh có chỉ định truyền máu. Về tình trạng ứ sắt, nồng độ Ferritin huyết thanh trung bình là 885,9 $\pm$ 675,0 ng/mL, trong đó có tới 80,6% người bệnh có chỉ định dùng thuốc thải sắt ($\text{Ferritin} \ge 800\text{ ng/mL}$).

3. Công tác chăm sóc của điều dưỡng tại khoa Huyết học lâm sàng đạt kết quả như thế nào?

Điều dưỡng đạt tỷ lệ 100% về thực hiện y lệnh thuốc, kỹ thuật truyền máu và xử trí diễn biến tai biến truyền máu; 96,8% người bệnh đánh giá điều dưỡng có thái độ giao tiếp ân cần, cảm thông; 96,8% được tư vấn về chế độ ăn. Tuy nhiên, tỷ lệ theo dõi đầy đủ dấu hiệu sinh tồn mới đạt 88,7% do còn 11,3% trường hợp điều dưỡng bỏ sót bước đếm tần số thở.

4. Người bệnh thực hành tự chăm sóc tại nhà ở những khía cạnh nào tốt và khía cạnh nào còn hạn chế?

  • Mặt tốt: Người bệnh tuân thủ rất tốt chế độ kiêng thực phẩm giàu sắt (96,8% thực hiện thường xuyên), thói quen uống nước chè xanh sau ăn để giảm hấp thu sắt (87,0% thường xuyên/liên tục), theo dõi diễn biến cơ thể hàng ngày (98,4%) và tuân thủ tái khám đúng hẹn (87,1%). Tổng thể có 93,6% người bệnh đạt mức tự chăm sóc từ khá đến tốt (Khá: 72,6%, Tốt: 21,0%).
  • Mặt hạn chế: Chế độ tập luyện thể lực chưa được duy trì thường xuyên (71,0% chỉ thỉnh thoảng tập luyện); việc bổ sung thực phẩm giàu canxi mới chỉ có 1,6% người bệnh thực hiện thường xuyên, 80,6% thỉnh thoảng thực hiện.

Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Trần Thị Chi Na đã phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng chăm sóc và tự chăm sóc của 62 người bệnh Thalassemia tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2022. Kết quả cho thấy đội ngũ điều dưỡng thực hiện tốt các y lệnh chuyên môn và kỹ năng giao tiếp nhưng cần khắc phục triệt để việc theo dõi đầy đủ dấu hiệu sinh tồn. Phần lớn người bệnh có mức độ tự chăm sóc đạt loại khá và tốt, song còn hạn chế rõ rệt trong việc duy trì rèn luyện thể lực và bổ sung dinh dưỡng cân đối. Các giải pháp đề xuất tập trung vào ứng dụng công nghệ thông tin quản lý bệnh mạn tính, tăng cường tài liệu truyền thông trực quan và đào tạo liên tục kỹ năng tư vấn cho điều dưỡng viên mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho các bệnh viện tuyến tỉnh.