Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1.1, Vài nét về bệnh sốt rét vả lịch sử phát hiện Bệnh sổt rét đã được mủ tà vởì nhiều tên gọi khác nhau trong y văn thế giới tù thời cổ đại.000 năm trưởc, người Trung Quổc đã biểl dùng cây thường sơn và cây thanh hao hoa vảng đê chữa bệnh sốt rét. Tníớc thế kỷ thứ 17 người dân Perou dã biết dùng nước sẳc vỏ cây chống sốt (Fever tree) đế chữa bệnh sốt rét [ 1J. Khoảng 400 năm trước công nguyên ờ Hy Lạp, Hyppocratc dã mô tả chi tiết triệu chứng lâm sàng bệnh sốt rét vả thường điều trị bệnh sổt rét bâng hỗn hợp mật ong với nước [35J. Cân nguyên gây bệnh cho dền năm 1880 mới dược mô tả lần đầu tiên do một bác sỹ quân đội người Pháp làm việc tại Algerie là Alphonse Laveran, sau đó 4 loài Plasmodium gây bệnh ờ người lẩn lượt được mô tả: p.
Năm 1880, Laxcran vã Patrick Manson đưa ra giả thuyết là bệnh sol rét dược truyền qua muồi, song 17 nám sau vào năm 1897 Ronal Ross, mội bác sỹ quân dội người Anh ờ Án Độ dà phát hiện ra KSTSR ở trong dạ dày muỗi. Ronal Ross làm thí nghiệm KSTSR ờ ặgười và chim dã xác: dính mu ổi Anopheles là trung gian truyền bệnh sổt rét ờ người. Năm 1934- 1953 Rafale, Short, Covell, Shutẹ tìm ra và mô tà thề tế bào (ngoài hồng cầu) cùa KSTSR ở người, động vật có vú và gà. Năm 1980, Knóioski và Gramham đà tim ra the ngủ llypnozoite của p.cynomoỉgi và gợi ỹ thề ngủ của p.vivax trong việc gây tái phát xa.
Năm 1976“ 1983, Trager và Jensen ở Mỹ thành công trong việc cây liên tục pfalciparum trong óng nghiệm và sử dụng phương pháp sinh học phân từ vớí kỹ thuật ghép và nhân lén cấu trúc ADN của pfalciparum sản xuẩt kháng thề dơn đòng chống lại kháng nguyên Pfalciparum [70 Ị, [72]. Năm í 987- 1992 hoàn thành thừ nghiệm một sổ vacxin phòng chống sổt rét ờ người tình nguyện, đã bắt đầu thử nghiệm trên thực dịa. Năm 1992- 1994, bác sỹ Mannucl Patarroyo hoàn thảnh vacxin hoâ tồng hợp đầu tiên là Spf66 và đã thứ nghiệm tại Tazania [36]. Năm 1999 các nhà khoa học úc dã nghiên cửu gen kháng thuốc cùa p.falciparum và dưa ra triển vọng sàn xuất vacxin phòng chững sot rét.
Quá trình lan truyền bệnh sốt rét và các yểu (ổ ảnh hưỏng 1. Quá trình lan truyền bệnh sốt rét [45] Sơ đổ 1.1: Quả (rình lan truyền cửa bệnh sốt rặt Ỉ. Tác nhãn gây bệnh sốt rét (KSTSR) và chu kỳ sinh học của KSTSR: * Ký sinh (rủng sốt rét là một đưn bào thuộc họ Plasmodidae. Theo nhiều tác giã cỏ khoảng 120 loài Plasmodium.
trong đó chỉ có 4 loài gây bệnh pho người là p. Ở Việt Nam chù yếu có 2 loài gây bệnh cho người là p. vivox, trong đó p falciparum chiếm 75- 80%. Chu kỳ phát triển cùa KSTSR qua haì vật chù: Ký sính trùng thể vô tính ờ người và thề hữu tính ớ muỗi Anopheles.
KSTSR có thể tồn tạì trong máu người trung bình từ ] đến 5 năm tuỳ theo từng loàỆ nếu khùng tái nhiễm và không được diều trị. Mỗi loài KSTSR gây những loại hình lâm sàng khác nhau về cơn sot về mức độ nặng, nhẹ, ve lử vong |4Ị. Nguồn bệnh sốt rét: l à bệnh nhân sốt rét hoặc người mang KSTSR lạnh [8J. Bệnh nhân sốt rét là nguồn bệnh quan trọng, BNSR khi có thể hữu lính của KSTSR ở máu ngoại vi mới lả nguồn lây bệnh sang người khác qua trung gian là muỗi Anopheles [4], [451- [75].
Người mang ký sinh trũng lạnh lả người khoè mang K.STSR trong máu nhưng không có triệu chửng. Người mang ký sinh trừng lạnh không dược phát hiện, cỏ thể lảm lây bệnh sẠt rét qua đường máu hoặc qua muỗi Anopheles rat nguy hiểm cho cộng đồng, đồng thời cũng trở thảnh BNSR khi sức đè kháng cùa cơ thể họ gỉảm sút [4], [34], [45]. 6 Nghè nghiệp, hoạt động và sự di chuyền cùa người mang nguồn bệnh sốl rét cỏ tầm quan trọng trong dịch te học sốt rét Những người từ dồng bang hoặc vùng có SRLÍ Ỉ nhẹ Lứí vũng cỏ SRLH nặng rồi quay về nhà với cơ thể bị nhiễm KSTSR có thê làm cho sôt rét lan rộng, trong những điều kiện nhât định có LhỄ lả nguyỄn nhân gây ra những vụ dịch sốt rét lớn, nhỏ [40], [45]. *Chu kỳ sinh học của ký sinh trùng sốt rét Ký sinh trùng sốt rét là những dơn bâo can cô hai vật chú trung gian liên tiếp để hoàn thành chu kỳ sống.
Con người, vật chủ trung gian nuỏí dường sự nhân bản vó tính (chu trình hệt sỉnh) cùa ký sinh trùng vả muồi giống Anopheles. vật chù quyệt định hay cuôi cùng, nơi liêp lục thực hiện sự nhân bàn hữu tính (hay chu trinh sinh bảo tứ). Cho đen nay con người mới chỉ phát hiện dược có 4 loài KSTSR ký sinh trên người !à p, malar iae, p. vivax, p, falciparum và p.
ovaỉẹ, Chu kỳ sồng cùa 4 chủng loại KSTSR chù yếu như nhau, nó bao gồm chu kỳ phát triền trong cơ the người (chu kỳ sinh sản vò tính) và chu kỳ phát triền trong cơ thề muỗi (chu kỳ sinh sàn híĩu tính) [9|. Thoa trùng (Sporozoites) Trứng nang giả (Oocyst) Thề phân cách gan (Mernzokcs) Thể phùn liệt (Schizont) Hợp lừ (Zygote) Giao bào (Gametocytes) Sơ dô 1.2: Chu kỹ sinh học của ký sinh trùng sốt rét 7 - Chu kỳ phát triển Irong cư thê người (chu kỳ sình sản vô tính) Sự phái triển cùa Plasmodium trong cơ thể người gồm hai giai doạn: + Giai đoạn ở gan (còn gọi là giai đoạn tiền hồng cẩu): Thoa trùng (Sporozoit) của KSTSR ờ trong hạch nước bọt của muỗi Anophles cải truyền bệnh, khi muỗi dot người thoa trùng chui qua mạclì máu để lưu thông trong máu. Sau 30 phút, toàn bộ thoa trùng vào gan và phát triển tại đó, trong tế bào gan thoa ưùng cuộn Iron lạỉ rồi phát triền th à nil thề phân liệt, thể phân liệt vờ ra giài phóng ra các ký sính trũng non (thê phân cách gan Merozoit), trong dỏ p.000 ký sính trùng non, p,vivax có 10.000 ký sinh trùng non, p.000 ký sinh trùng non. Những ký sình trùng này vào máu kỷ sinh trong hồng cầu, riêng dổi với p.ớvaỉe thì ngoài sự phát triển tức thì cùa các íhoa Lrùng đề thành thể phân liệt còn có sự phát triền muộn hơn của một so thoa trùng khác, nhùng thoa trùng này không phát triển ngay thành thề phân liệt mà tạo thàíih các the ngủ (I lypnozoites), các thể ngủ này tiềm láng trong tể bào gan phầt triển tùng đựL thành thể phân liệt, the phân liệt vỡ và giải phỏng các ký sinh trùng non (thể phân cách gan Merozoit) vào mâu gây nên nhừng cơn tái phát xa.
+ Giai doạn ờ máu (giai đoạn hong cau): Các ký sinh trùng non từ gan xâm nhập vào hồng cẩu, lúc dầu là thề tư dưởng sau dó phát triển thành thề phân ỉiệt (Schizont) non roi thể phân liệt già, phá vỡ hòng cẩu giải phóng ra những ký sinh trùng non, lúc này tương ứng vởí cơn sốt rét trên lầm sàng (11], [34], Hầu hết những ký sính trùng này quay lại ký sinh trong hồng cầu mới, còn một so biệt hoá thành những thể hữu giới dó lả nhũng giao bào đực và giao bào cái, nhừng giao bào này nếu được muỗi hút vào dạ dày sê tíep tục phát triểú trong CƯ thể muỗi, nếu khỏng được muỗi hút, giao bào ờ lại trong máu rồi bị tiêu di. - Chu kỳ phái triển trong CƯ thể muỗi (chu kỳ sinh sán hửu lính) Giao bào (Gametocyte) đực và cái được muôi hút vảo dạ dày sẽ phải triền thành giao từ dục (Microgamcte) và giao tứ cái (Macrogamete), một giao bào cái phát triển thành một giao từ cái trường thành, một giao từ đực phát tri én thành nhiều giao lử đực trưởng thành bàng hiện tượng thoát roi- Giao tứ dực hoà hợp với nhiều 8 giao từ cái tạo thành hợp tử (zygote), hợp lử chuyển động và trở thành trúng di dộng (Ookinete). Trứng này chui qua thành dạ dày muỗi trở thành trứng nang già (Oocyste), khi trứng nang phát triển thành trứng nang già bên trong có khoảng 10.000 thoa trùng, trứng nang già vỡ thì các thoa trùng sẽ đến tập chung trong hạch nước bọt cửa muỗi, khí muỗi đốt người thoa trùng sẽ thâm nhập vào cơ thể người đề gây bệnh. Khà nãng phát triển của KSTSR trong cơ thề muỗi phụ thuộc vào ỉoài Anopheles, có loài phù hợp với Plasmodium này nhưng lại không thích hợp với loại Plasmodium khác [45].
Vector truyền bệnh sốt rét (muồi Anopheles): Sốt rét người chỉ lây truyền bởi muỗi Anopheles thuộc họ Culicidae. Trcn the giới cỏ khoảng 400 loài Anopheles, nhưng chỉ có 60 loài truyền bệnh sốt rét, trong đó có 30 loảì quan trọng nhất. Muỗi Anopheles đẻ trứng trên mặt nước cùa những điểm nước lự nhicn (sông, suối, ao, hồ .) hoặc do con người tạo ra (ruộng bậc thang, mương dãn nước, vò đồ hộp, bề chửa, công trình thưỷ diện, thuỷ lợi. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triền của muỗi là từ 20- 3o”c.
Có những loài muỗi Anopheles ưa trú ẩn trong nhà, có những loàỉ ưa trú ần ngoài nhà vào dốt người trong nhà hoặc dốt người ngoài nhà. Da số muồi Anopheles dốt ngưởi về ban đêm lù 22 giờ dển 4 giờ sáng, một số ít dốt người về ban ngày [45], [75]. Vector truyền bệnh chính ở Việt Nam là An.đirus sổng trong rừng, An.minimus thích ở ven rừng và An.sundaicus ở vùng nước lợ mien duyên hài và châu tho sông Mê Kông. Vector phụ là An.ỉesteri và An.
Vật chủ càtn thụ (Người): Khi muỗi Anopheles có thoa trùng dốt người vả đưa thoa trùng vào máu thì sự phát triển tiếp theo của KSTSR tuỳ thuộc vào lình trạng cảm thụ hoặc miễn dịch cùa người dó [4], [75]. - Miễn dịch tự nhiên: Người có mien dịch tự nhiên đối với các loài KSTSR cùa chim, bò sát vả gặm nhấm. Một số nhóm người, chùng người cũng có miễn dịch tự nhiên dổi với KSTSR của người [37], [45]. 9 - Mien dịch thu dược: Mien dịch tạo thành trong bệnh sổt rét do hai cư chể, cơ chế tế hào và cư chê dịch thể [37 |.
Ba yểu tố cơ bàn trong quá Lrình lan truyền bệnh sốt rét: l ác nhân gây bệnh (K.STSR), vector truyền bệnh (muỗi Anopheles} vả vật chủ cảm thụ (người) phàí được nối liền vớĩ nhau thì quá trinh này mới dien ra. Muỗi Anopheles phải dot người có giao bào sót rét trưng máu, muồi phát song đủ làu để những giao bào đó phát triển thành thoa trùng, vầ cuối cùng phải dốt người chưa có miển dịch hoặc mien dịch thẩp thi mới có lan truyền sốt rét [451.