ĐẶT VẤN ĐỀ Nghiên cứu dịch tễ sốt rét (SR) khu vực Đông Nam Á đưa ra nhận xét là mức độ lan truyền SR thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ trong rừng ra bìa rừng và tới khu vực xa rừng #?, Tại Thái Lan, những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn 6 - 13 lần so với những người chỉ sống và làm việc trong khu dân cư “'® 7. G một số địa phương khu vực Miền Trung và Đông Nam Bộ (Việt Nam), những người thường xuyên ngủ qua đêm trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn 2 - 4 lần so với những người khác #* !®, Lan truyền SR là kết quả tương tác giữa 4 yếu tố: muỗi truyền bệnh (véc tơ), con người, ký sinh trùng sốt rét (KST SR), và môi trường. Trong số các yếu tố trên, thì muỗi truyền bệnh có vai trò như thế nào dẫn đến nguy cơ lan truyền SR khác nhau giữa khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng? Để trả lời câu hỏi này, việc điều tra đánh giá thành phần loài, mật độ, tập tính, tỷ lệ nhiễm KST SR của véc tơ ở các sinh cảnh khác nhau là cần thiết. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để tìm kiếm biện pháp phòng chống véc tơ đặc thù thích hợp cho từng khu vực, nhất là cho những người hoạt động và ngủ trong rừng, bởi vì các biện pháp phòng chống véc tơ thông thường (phun hoá chất tồn lưu, màn tầm hoá chất diệt muỗi) có thể là không thích hợp và kém hiệu quả trong phòng chống véc tơ SR cho nhóm đối tượng này.
Thành phần loài Anopheles ở Việt Nam liên tục được bổ sung do nhiều loài mới được tìm ra nhờ mở rộng diện điều tra và ứng dụng các kỹ thuật sinh hoá, sinh học phân tử trong phân loại học. Tuy vậy, thành phần loài Azopheles ở nước ta chủ yếu được xác định dựa vào kết quả điều tra ở các địa phương trên đất liền. Vì vậy, việc điều tra thu thập muỗi Anopheles ở Côn Đảo sẽ cung cấp mẫu vật để hoàn thiện hơn nữa danh sách thanh phan loai Anopheles trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Mặt khác, cho đến nay Dạng muỗi Côn Sơn (Con Son form) thu thập được ở Côn Đảo thuộc nhóm loài phụ Leicosphyrus là nhóm có vai trò truyền SR quan trọng ở Đông Nam A vẫn chưa được xác định vị trí phân loại chính thức ”, Vì vậy, xác định Dạng muỗi Côn Sơn là một loài hay chỉ là một biến thể của một loài nào đó trong nhóm loài phụ Leucosphyrus, và nhất là tìm hiểu vai trò truyền SR của nó tại Côn Đảo là việc cần làm.
Kết quả điều tra muỗi Anopheles nói chung và véc tơ SR nói riêng tại Côn Đảo sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai các biện pháp phòng chống véc tơ SR thích hợp cho cư dân sinh sống và khách du lịch trên hòn đảo có vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng này. Trong bối cảnh trên, đề tài “Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng tại tỉnh Ninh Thuận và điều tra thành phần lodi Anopheles tại Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tòu" được tiến hành với các mục tiêu sau đây: 1. Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét tại một số khu vực dân cư, khu bìa rừng và trong rừng ở tỉnh Ninh Thuận dựa trên mật độ và tỷ lệ nhiễm thoa trùng của VÉC tƠ SỐT rét. Điều tra thành phần loài và mật độ các loài Anopheles nói chung và các loài đã được xác định là véc tơ sốt rét ở Việt Nam tại Con Dao (tinh Bà Ria-Viing Tàu).
TONG QUAN DE TAI 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài 2. Về lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng Lan truyền SR dai dắng là hiện tượng phổ biến tại nhiều vùng rừng núi ở Dong Nam Á. Ở những vùng này thường có mặt một số loài Anopheles có khả năng truyền bệnh, chẳng han nhu An.
fluviatilis, trong đó An. dirus được coi là có vai trò quan trọng nhất 2%, Mức độ lan truyền SR ở một khu vực nào đó liên quan chặt chẽ đến số lượng loài véc - tơ có mặt, mật độ và khả năng truyền bệnh của mỗi loài. Nhiều nghiên cứu đưa ra cùng một nhận xét là mức độ lan truyền SR thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ trong rừng ra bìa rừng và tới khu vực xa rừng. Tại vùng Tây Bác Thái Lan, những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn khoảng 13 lần so với những người chỉ sống và làm việc trong khu dân cư @*), Một nghiên cứu khác tiến hành tại một địa phương ở Thái Lan gần biên giới Myanmar cho thấy những người có hoạt động liên quan đến rừng (săn bắn, tìm kiếm và khai thác lâm, thổ sản.) có nguy cơ mắc SR cao hơn 6 lần so với những người không có hoạt động trong rừng +9, Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự khác nhau về mức độ lan truyền SR giữa khu vực dân cư (ngoài rừng) với khu bìa rừng và trong rừng là do sự khác nhau về mật độ, tuổi thọ.
của các loài véc tơ néi chung va cla An. dirus néi riêng giữa các khu vực này. Trong rừng, An. dirus có mặt với mật độ đáng kể quanh năm.
Ngược lại, ở khu dân cư ngoài rừng, An. dirus có mật độ cao vào mùa mưa, nhưng trong mùa khô do không có ổ nước để An. dirus đề trứng, nên mật độ An. đirus thường rất thấp.
Tại một địa phương của Bangladesh, trong các tháng mùa khô chỉ tìm thấy bọ gậy Án. đirus ở các ổ nước đọng trong lòng suối cạn trong rừng cách khu dân cư hơn 3 km ?®. Ở Thái Lan, vào mùa khô số lượng Án. đirus bắt được trong rừng nguyên sinh cao hơn 2 lần so với nơi rừng đã bị chặt phá để lấy đất làm nương rẫy 2”.
Ngoài yếu tố mật độ và thời gian có mặt trong năm của Áøi. đirus, thì sự khác nhau về tuổi thọ và tỷ lệ nhiễm KST SR của các quần thể An. điuš giữa khu vực trong rừng, bìa rừng và xa rừng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến mức độ lan truyền SR khác nhau giữa các khu vực. Theo Sharma VP và Kondrashin AV (1991), các quần thể véc - tơ trong rừng sâu có tuổi thọ và tỷ lệ nhiễm thoa trùng cao hơn khu vực bìa rừng và xa rừng “”.
Tại Myanmar, tỷ lệ mang thoa trùng của An. đirus trong rừng sâu là 2,8%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực dân cư giao động trong khoảng 0,4 - 1,2% #3, Khác nhau về số lượng loài véc tơ tham gia truyền SR cũng là một yếu tố làm cho mức độ lan truyền SR không như nhau giữa các khu vực. Tại Thái Lan, thành phần loài véc tơ ở rừng nguyên sinh thường cao hơn ở khu vực rừng đã khai thác để lấy đất canh tác nông nghiệp 9, 2. Về thành phan loai Anopheles, véc tơ sốt rét và nhóm Leucosphyrus Trên thế giới có khoảng 420 loài muỗi thuộc giống Anopheles, trong đó khoảng 70 loài đã được xác định là véc tơ truyền SR ở người trong điều kiện tự nhiên °””, Một loài Anopheles có thể là véc tơ chính ở vùng này, nhưng lại không có vai trò truyền bệnh ở vùng khác.
philippinensis có mặt rộng rãi ở vùng Đông Phương, nhưng mới chỉ được khẳng định có vai trò truyền SR ở Bangladesh mà thôi ”?. Nói cách khác thành phần loài véc tơ là không giống nhau ở các vùng địa lý khác nhau. Nhóm Leucosphyrus thuộc giống Anopheles được coi là nhóm có vai trò dịch tễ quan trọng ở Đông Nam Á. Nhóm này được chia thành 3 nhóm phụ: Leucosphyrus, Elegans và Riparis.
Cả ba loài có vai trò truyền SR quan trọng là An. balabacensis Baisas, An. dirs Peyton and Harrison, va An. leucosphyrus Doenitz déu thuộc nhóm phu Leucosphyrus ®.
Cho dén nay, nhém phụ Leucosphyrus được xác định có 12 loài: An. introlatus, An, latens, An. takasagoensis, và một dạng được gọi là Dạng muỗi Côn Sơn (Con Son form) Ó5-*, An. balabacensis có mặt ở các vùng đảo của các nước như Malaysia, Indonesia.
Các loài thành viên thuộc phức hợp loài Dirus có mặt ở vùng đất liền một số nước Châu Á. Dạng muỗi Côn Sơn mới chỉ thấy có mặt tại Côn Đảo, và cho đến nay vị trí phân loại và vai trò truyền SR của nó vẫn chưa được xác định. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 2.Về lan truyền sốt rét trong khu dân cư, bìa rừng và trong rừng Cũng giống như các nước khác ở Đông Nam Á, tại Việt Nam lan truyền SR có mối liên quan chặt chẽ với rừng. Kết quả nghiên cứu dịch tễ SR tại xã Suối Kiết (Tánh Linh, Bình Thuận) cho thấy những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ mắc SR cao hơn 4 lần so với những người không thường xuyên làm việc và ngủ trong rừng #, Tại xã Đấk Ơ (Phước Long, Bình Phước), những người làm việc và ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn khoảng 2 lần so với những người khác ", Có nhiều nguyên nhân làm cho những người hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ mắc SR cao, nhưng trước hết phải nói đến là do mức độ tiếp xúc giữa người với véc tơ trong rừng thường cao hơn ở các khu vực khác.
Ở Việt Nam, An. điuš đã được xác định là véc - tơ SR chính ở khu vực rừng núi từ 20 vĩ độ Bắc trở vào Nam ?. Phân bố của An. đirus gắn liên với rừng và mật độ giảm dần theo hướng từ trong rừng ra bìa rừng và xa rừng.
Tại xã Khánh Phú (Khánh Vĩnh, Khánh Hoà), mật độ An. đirus trong rừng sâu cao hơn 2 lần so với khu bìa rừng và hơn 10 lần so với khu thôn bản ?. Tại xã Đắk Ở (Phước Long, Bình Phước), mật độ (con/người/đêm) của An. đirus bắt bằng mồi người khu thôn bản là 0,11; khu bìa rừng là 0,74; và ở trong rừng là 2,19 4”, Cùng với mật độ, tỷ lệ nhiễm thoa trùng của Án.
đirus trong rừng thường cao hơn ở khu dân cư dan đến chỉ số lan truyền côn trùng nam (Annual Entomological Inoculation Rate (AEIR): số lần muỗi mang thoa trùng đốt một người trong một năm) ở trong rừng cao hơn khu dân cư. Tại Khánh Phú (Khánh Vĩnh, Khánh Hoà), AEIR của An.