Chương 1: Những vấn đề chung về thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG 1. Chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng 1.
Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng - Khái niệm môi trường rừng Theo quan điểm chung “rừng là hệ sinh thái có diện tích tối thiểu 0,05 – 1,00 ha; tỷ lệ che phủ tầng tán rừng tối thiểu 10-30%; chiều cao cây tối thiểu 2-5m trở lên, hệ sinh thái được hiểu là một tập hợp quân thể năng động có một chức năng chung của các loại thực vật, động vật và các chất vi sinh vật cùng môi trương xung quanh chúng. Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam 2004 đã đưa ra khái niệm “ rừng là một hệ sinh thái bao gồm quân thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó có cây gỗ, tre, nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính, có độ che phủ của tán rừng từ 0,1(10%) trở lên”. Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường sống các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng môi trường rừng gồm; Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ cácbon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loại sinh vật, gỗ và lâm sản khác.
- Khái niệm dịch vụ môi trường rừng Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ: - Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; - Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; 12 - Hấp thụ và lưu giữ cácbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; - Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; - Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản. Đối với khái niệm dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi trường rừng, đã mang lại kết quả tác động của rừng tạo ra cho xã hội và tự nhiên. Là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế trong hệ sinh thái chung, nó có chức năng bảo vệ đất, hạn chế sói mòn và bồi lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội. Hấp thụ và lưu giữ cácbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đà dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt giảm nhẹ biên đổi khí hậu, phòng hộ đầu nguồn và đa dạng sinh học….Từ đó, Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đã ra đời và từng bước được áp dụng ở các nước, tạo hiệu quả rất tốt về chính sách công chi trả dịch vụ môi trường rừng và huy động nguồn lực tài chính.
- Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng Mặc dù khái niệm chi trả dịch vụ môi trường bắt nguồn từ lý thuyết thị trường, việc Nhà nước trực tiếp tham gia điều tiết chi trả dịch vụ môi trường rừng vừa cần thiết, vừa là điều mà các bên chi trả dịch vụ môi trường rừng đều mong muốn. Trong ngành lâm nghiệp, từ những năm 1990 đến nay, Nhà nước đã chuyển dần từ vai trò bên mua dịch vụ môi trường rừng sang bên điều khiển chi trả dịch vụ môi trường rừng. 13 Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng có hai hình thức chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp. Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là quan hệ tài chính từ các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ, được đảm bảo sự trong lành về môi trường để sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đà dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo môi trường đất.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là quá trình giao dịch tự nguyện của những người hướng lợi dịch vụ cho người cung ứng dịch vụ được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một bán dịch vụ, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trương rừng đó một cách hợp lý. Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng, nhằm khuyên khích chủ rừng, người quản lý rừng tham gia bảo vệ và phát triển rừng tốt hơn. Đặc điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng PFES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ công cộng là dịch vụ môi trường rừng. Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả.
Diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng theo quy định là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất nó có đặc điểm chủ yếu là bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, đồng thời được điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất để phục vụ đời sống xã hội, hấp thụ và lưu giữ cácbon của rừng, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng. Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ cung 14 ứng, là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật, trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện cần phải đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch, khách quan, công bằng, phù hợp với hệ thống luật pháp của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập. Đối tượng tham gia cung ứng, chi trả dịch vụ môi trường rừng Đối tượng tham gia cung ứng, chi trả dịch vụ môi trường rừng là các cơ quan nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn vùng miền núi và ngang ven biển những nơi có rừng, đặc biệt vùng núi đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, cũng như trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng đúng quy định. Các đối tượng được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng của các khu có rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng hoặc là tổ chức, cá nhân tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao do Ủy ban nhân dân tỉnh xác nhận theo đề nghị của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng để sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng, bảo vệ phát triển rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao do Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Đối tượng tham gia chi trả dịch vụ môi trường rừng là các cơ sở sản xuất thủy điện, sản xuất công nghiệp, cung ứng nước sạch, các tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hướng lợi từ dịch vụ môi trường rừng và các đơn vị hấp thụ, lưu giữ cácbon, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản thì đều phải tham gia chi trả 15 dịch vụ môi trường rừng để bảo vệ đất, hạn chế sói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối, để điều tiết và duy trì nguồn nước, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đà dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng để đảm bảo việc sản xuất thủy điện, sản xuất công nghiệp, dịch vụ du lịch và nuôi trồng thủy sản….