Tổng quan nghiên cứu

Diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam hiện đạt khoảng 12,64 triệu ha, song cả nước vẫn còn tới 6,16 triệu ha đất trống đồi trọc cần được phục hồi sinh thái. Tại tỉnh Quảng Nam, diện tích đất có rừng đạt 769.988 ha với độ che phủ 58,64%, trong đó huyện miền núi Tây Giang sở hữu 64.873,22 ha rừng tự nhiên và rừng trồng, chiếm tỷ lệ che phủ 71,001%. Mặc dù giữ vai trò phòng hộ xung yếu cho hệ thống thủy điện và lưu vực hạ lưu, tài nguyên rừng Tây Giang từng đối mặt nguy cơ suy thoái do áp lực khai thác lâm sản và sinh kế của 38,11% hộ nghèo.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng bền vững, minh bạch và gắn liền với ổn định đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Mục tiêu cụ thể là đánh giá thực trạng triển khai chính sách, nhận diện hạn chế trong quản lý tài chính và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chi trả. Phạm vi nghiên cứu thực hiện từ năm 2017 đến năm 2019, định hướng đến năm 2025 tại 71 thôn thuộc 10 xã của huyện Tây Giang cùng các Ban quản lý rừng phòng hộ và Khu bảo tồn Sao La. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi góp phần tối ưu hóa phân bổ nguồn thu, nâng cao thu nhập cho 3.477 hộ nhận khoán và duy trì quy hoạch 85,14% đất lâm nghiệp toàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế tài nguyên môi trường kết hợp lý thuyết thị trường dịch vụ hệ sinh thái của Sven Wunder năm 2005. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng được nhìn nhận như giao dịch có điều kiện giữa bên sử dụng và bên cung ứng nhằm nội hóa ngoại ứng môi trường. Chu trình chính sách công gồm các bước hoạch định, lập kế hoạch, tuyên truyền, thực thi, theo dõi kiểm tra và đánh giá tổng kết được sử dụng để khảo sát thực tiễn địa phương.

Các khái niệm then chốt gồm: Dịch vụ môi trường rừng, Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, Chủ rừng cung ứng dịch vụ, và Cơ chế ủy thác tài chính qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Căn cứ pháp lý nền tảng gồm Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, Nghị định số 147/2016/NĐ-CP, Nghị định số 75/2015/NĐ-CP và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP quy định mức điều tiết 36 đồng/kWh điện thương phẩm và 52 đồng/m3 nước sạch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo giai đoạn 2017-2019 của Ủy ban nhân dân huyện Tây Giang và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2019. Cỡ mẫu điều tra thực nghiệm đạt N = 356 phiếu khảo sát, phát trực tiếp và thu hồi hợp lệ 100%. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được thực hiện tại 71 thôn thuộc 10 xã (mỗi xã 30-35 phiếu) và các ban quản lý rừng (10-15 phiếu).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng trên phần mềm Microsoft Excel kết hợp phân tích định tính là nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của người dân và làm rõ nguyên nhân các bất cập trong quản trị tài chính. Timeline nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tế từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 6 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc chuyển sang khoán bảo vệ rừng theo cộng đồng thôn bản từ năm 2016 đã đạt bước tiến lớn, thành lập 148 tổ nhóm thuộc 83 đơn vị tại 10 xã với 3.477 thành viên quản lý 64.873,22 ha rừng. Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung nhận khoán lớn nhất với 31.713,62 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ A Vương nhận 18.858,44 ha và Khu bảo tồn Sao La nhận 8.632,57 ha.

Thứ hai, khảo sát thực tế 356 phiếu cho thấy mức độ đồng thuận cao: 180 người rất hài lòng (chiếm 50,56%), 149 người hài lòng (chiếm 41,85%) và 27 người chưa hài lòng (chiếm 7,58%).

Thứ ba, công tác tuyên truyền đạt kết quả sâu rộng với 16.659 lượt người tham gia và 48 bảng pano tuyên truyền được lắp đặt tại 10 xã.

Thứ tư, nguồn thu dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2019 đạt 72.000.000 đồng, giải ngân chi trả 38.249.000 đồng, góp phần giữ vững 85,14% đất lâm nghiệp quy hoạch.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ hài lòng cộng gộp đạt 92,41% bắt nguồn từ quy chế công khai tài chính tại thôn và phát huy vai trò già làng, trưởng thôn. Khi tổng hợp số liệu trên biểu đồ hình quạt về mức độ hài lòng và bảng phân bổ diện tích giao khoán, mối liên hệ mật thiết giữa quy mô khoán rừng và trách nhiệm cộng đồng được thể hiện rõ ràng.

Tuy nhiên, 7,58% tỷ lệ chưa hài lòng là do đơn giá chi trả ở một số lưu vực chỉ đạt khoảng 200.000 đồng/ha/năm, chưa bù đắp chi phí sinh hoạt trong điều kiện thiếu đất sản xuất. So với mô hình tại huyện Nam Giang hay xã Trà Linh thuộc huyện Nam Trà My, huyện Tây Giang có thế mạnh về quản lý cộng đồng người Cơ tu nhưng còn chậm khai thác nguồn thu từ du lịch sinh thái và hấp thụ carbon.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Tây Giang, 5 giải pháp trọng tâm được xác định như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện phân định ranh giới rừng. Ủy ban nhân dân huyện Tây Giang phối hợp Chi cục Kiểm lâm số hóa bản đồ 77.786,54 ha đất lâm nghiệp, hoàn thành 100% hồ sơ giao khoán cho 71 thôn trước quý 4 năm 2023.

Thứ hai, mở rộng truyền thông cơ sở. Ban Chỉ đạo thực thi chính sách huyện lắp đặt thêm 71 bảng pano tuyên truyền tại toàn bộ các thôn, hướng tới tiếp cận 20.000 lượt người mỗi năm giai đoạn 2023-2025.

Thứ ba, khai thác nguồn thu mới. Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam xúc tiến hợp đồng với các cơ sở du lịch sinh thái, phấn đấu nâng nguồn thu từ 72.000.000 đồng lên 150.000.000 đồng/năm trước năm 2025.

Thứ tư, hỗ trợ sinh kế dưới tán rừng. Phòng Nông nghiệp huyện lồng ghép nguồn hỗ trợ khoán 400.000 đồng/ha/năm theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP để phát triển 500 ha cây ba kích, đẳng sâm giai đoạn 2023-2025.

Thứ năm, tăng cường kiểm tra tài chính. Thanh tra huyện phối hợp Ban Giám sát 10 xã định kỳ kiểm toán 100% quỹ chi trả thôn bản, bảo đảm giải ngân công khai và đúng đối tượng đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh. Công trình cung cấp bài học thực tiễn về quản trị 64.873,22 ha rừng và vận hành chính sách theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP.

Thứ hai, Ủy ban nhân dân cấp huyện và các Ban quản lý rừng phòng hộ. Tài liệu chia sẻ kinh nghiệm xây dựng 148 tổ nhóm tự quản tại 71 thôn bản, giúp giảm xung đột tài nguyên và bảo vệ rừng hiệu quả.

Thứ ba, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Dữ liệu khảo sát từ 356 phiếu thực địa là cơ sở khoa học để xây dựng dự án viện trợ bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu vùng cao.

Thứ tư, học viên, sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Chính sách công, Kinh tế tài nguyên. Đề tài cung cấp phương pháp luận và mô hình đánh giá tác động chính sách thực chứng chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Điểm đột phá trong cơ chế giao khoán bảo vệ rừng tại huyện Tây Giang là gì? Trả lời: Từ năm 2016, huyện chuyển đổi từ các tổ nhóm cá nhân sang giao khoán trực tiếp cho cộng đồng làng với 148 tổ nhóm tại 71 thôn, giúp toàn dân cùng hưởng lợi và tự giác tuần tra bảo vệ rừng.

Câu hỏi 2: Nguồn thu dịch vụ môi trường rừng của huyện Tây Giang được hình thành từ đâu? Trả lời: Nguồn thu chủ yếu trích từ các nhà máy thủy điện, cơ sở cấp nước sạch lưu vực sông A Vương và Bắc Sông Bung, đạt 72.000.000 đồng và đã giải ngân 38.249.000 đồng cho cộng đồng trong giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2019.

Câu hỏi 3: Vì sao vẫn còn 7,58% người dân chưa hài lòng với việc thực thi chính sách? Trả lời: Qua khảo sát 356 phiếu, 27 ý kiến chưa hài lòng do mức chi trả tại một số vùng còn thấp, chỉ khoảng 200.000 đồng/ha/năm, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt trong khi người dân thiếu đất sản xuất.

Câu hỏi 4: Mức phí chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện hành được áp dụng như thế nào? Trả lời: Theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, mức thu áp dụng cho cơ sở thủy điện là 36 đồng/kWh và cơ sở nước sạch là 52 đồng/m3, được ủy thác qua Quỹ để chi trả cho các chủ quản lý 64.873,22 ha rừng.

Câu hỏi 5: Giải pháp nào giúp gia tăng thu nhập cho người dân nhận khoán rừng? Trả lời: Địa phương kết hợp mức hỗ trợ 400.000 đồng/ha/năm theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP với mô hình trồng dược liệu đẳng sâm, ba kích dưới tán rừng, hỗ trợ thoát nghèo cho 38,11% hộ nghèo trên địa bàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện miền núi.
  • Khẳng định mô hình quản lý rừng dựa vào 148 tổ nhóm cộng đồng tại 71 thôn đạt tỷ lệ đồng thuận cao 92,41%.
  • Chỉ rõ nút thắt khi mức chi trả thực tế 38.249.000 đồng còn thấp so với quy mô 64.873,22 ha rừng.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn bảo vệ rừng với phát triển 500 ha cây dược liệu dưới tán rừng.
  • Lan tỏa thông điệp phát triển bền vững: Rừng còn Tây Giang phát triển, rừng mất Tây Giang suy vong.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp giải pháp thực tiễn giúp nâng cao hiệu quả chính sách công và cải thiện sinh kế đồng bào. Giai đoạn 2023-2025 đòi hỏi địa phương số hóa quản trị rừng và mở rộng nguồn thu mới. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hãy tham khảo, áp dụng ngay mô hình này vào thực tiễn quản lý tài nguyên rừng!