Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới "Dịch vụ môi trường rừng" là một khái niệm mới, tư duy, trừu tượng được đưa vào thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của DVMTR ngày càng được lan rộng và ở một số nước, thì DVMTR còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, DVMTR đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
“Chi trả dịch vụ môi trường rừng” (PFES) là quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”. Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trường mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đa dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất… Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để cung cấp các dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trước nguy cơ bị suy giảm vì môi trường rừng đang dần bị suy thoái và ô nhiễm quá mức. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới điều đó là tăng nhu cầu phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, sự thiếu hiểu biết về chu kỳ và chức năng của các hệ sinh thái và cả sự thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp và cá nhân khi chỉ nghĩ tới việc tối đa hóa lợi nhuận trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài về bảo vệ môi trường. Trên thế giới chi trả DVMTR đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20, đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới [9].
Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất và chính phủ một số nước Châu Âu cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình chi trả DVMTR. e 6 Theo Simpson và Sedjo (1996), Land-Mils và Porras (2002), chi trả DVMTR là một cách tiếp cận mới để khuyến khích chủ rừng, những người quản lý rừng cung cấp dịch vụ môi trường rừng tốt hơn. Chính sách chi trả DVMTR giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng hoặc khuyến khích những người chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều chương trình chi trả DVMTR.
Chúng được chia thành nhóm các chương trình PFES tự nguyện và PFES chính phủ. Trong chương trình PFES tự nguyện, cả nhà cung cấp dịch vụ môi trường và người sử dụng dịch vụ đều tự nguyện trên cơ sở hợp đồng. Ngược lại, trong các chương trình PFES chính phủ tài trợ thường chỉ tự nguyện ở bên nhà cung cấp, còn người sử dụng DVMTR sẽ chi trả qua các thể chế bằng pháp luật với dạng phí và lệ phí bắt buộc. Có thể kể đến một số chương trình PFES tự nguyện ở Los Negros Bolivia (Asquith et al., 2008), ở Pimampiro Ecuador (Wunder and Albasn, 2008), ở Vittel Pháp (Perrot-Maître, 2006), và một số chương trình PFES chính phủ như chương trình bảo vệ đất dốc ở Trung Quốc (Bennett, 2008), Chương trình PFES ở Costa Rica (Pagiola, 2008), chương trình PFES ở Mexico (Muñoz-Piña et al., 2008-this issue), chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ (Claassen et al., 2008), chương trình vùng nhạy cảm môi trường và sơ đồ quản lý quốc gia ở Anh (Dobbs and Pretty, 2008), dự án mô hình Northeim ở Đức (Bertke and Marggraf, 2004), chương trình Wimmera ở Úc (Shelton and Whitten, 2005), chương trình tương tự chi trả dịch vụ môi trường ở CAMPFIRE, Zimbabwe (Frost and Bond, 2008), chương trình hoạt động vì nước ở Nam Phi (Turpie et al.
Cụ thể như: - Úc: Đã luật hóa quyền phát thải carbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng. Đang thực hiện chiến lược bồi hoàn đa dạng sinh học và chương trình bảo tồn nhằm giảm e 7 thiểu tác động của hoạt động mở rộng khai thác mỏ. Các ông ty khai thác mỏ phải thực hiện bồi hoàn lại môi trường do hoạt động khai thác mỏ gây ra bằng cách thiết lập những khu rừng mới. - Chi-lê: Người dân Chi-lê đã đầu tư vào Khu Bảo tồn Tư nhân phục vụ mục đích chính là bảo tồn và điểm nghỉ dưỡng có giá trị đa dạng sinh học cao.
Chi trả được thực hiện theo hình thức tự nguyện với mong muốn bổ sung thêm cho nguồn ngân sách bảo tồn sinh cảnh xung yếu của chính phủ. - Costa Rica: Luật Lâm nghiệp (được thông qua năm 1996) đã xây dựng chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái tại Costa Rica trong một nỗ lực nhằm bảo vệ các khu rừng nhiệt đới của quốc gia. Bộ Môi trường được thành lập để thực hiện chương trình quốc gia này và đã công nhận 4 loại dịch vụ hệ sinh thái chính mà các khu rừng nhiệt đới của đất nước cung cấp: Giảm phát thải khí nhà kính; Phòng hộ đầu nguồn; Bảo tồn đa dạng sinh học; Bảo tồn vẻ đẹp cảnh quan. Cả 4 dịch vụ này tạo ra một gói dịch vụ kết hợp phản ánh giá trị sinh thái tổng hợp của một diện tích rừng, và Bộ Môi trường nhận được 10 USD/1ha/năm từ bên mua (gồm các công ty thủy điện, công ty sản xuất bia).
Bộ Môi trường sử dụng nguồn thu này để thực hiện các hợp đồng có thời hạn 5 năm với các chủ đất tư nhân để chi trả trọn gói cho các dịch vụ hệ sinh thái (nước, các-bon, đa dạng sinh học và vẻ đẹp cảnh quan) được cung cấp từ nỗ lực bảo vệ rừng [9], [11]. - Peru: Chính phủ Peru đã tài trợ cho chương trình Profafor để hỗ trợ người tham gia quản lý bảo vệ rừng với đơn giá 100 - 150 USD/ha/năm; Chương trình lâm nghiệp xã hội (Socio Bosque) để hỗ trợ người tham gia quản lý bảo vệ rừng với đơn giá 30 USD/ha/năm [5]. - Mexico: Chính phủ Mexico đã tài trợ cho một chương trình chi trả để bảo vệ rừng đầu nguồn và cung cấp dịch vụ thủy văn. Chủ rừng ở bất cứ tiểu bang nào cũng đều có thể nộp đơn xin tham gia chương trình miễn là họ đáp ứng được các tiêu chí thực hiện.
Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia đã ký hợp e 8 đồng với chủ đất và hợp đồng có thể được ký lại hàng năm trong giai đoạn 5 năm. Tiền chi trả lần đầu sẽ được thanh toán trong vòng 16 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng và các lần chi trả sau sẽ được thanh toán vào cuối năm dựa vào ảnh vệ tinh và kiểm tra ngẫu nhiên tại hiện trường. Mức giá chi trả cho chủ đất do nhà nước quyết định trên cơ sở chi phí theo loại hình sử dụng đất, giả sử thu nhập từ trồng ngô là một hoạt động thay thế trên diện tích đất đó (mức giá từ 30 đến 36 USD/ha/năm) [9]. - Mỹ: Chính phủ Mỹ đóng góp đáng kể vào hoạt động chi trả hệ sinh thái được phát động bởi chính phủ trong các sáng kiến về chất lượng nước thông qua việc tài trợ 5 chương trình bảo tồn liên bang, trong đó một chương trình đầu tư vào cơ sở hạ tầng và bốn chương trình cấp độ địa phương về bảo vệ nguồn nước uống với tổng đầu tư khoảng 1,35 tỷ USD trong năm 2008 [5]; Cùng với sự gia tăng của mô hình “cộng đồng thực thi” có nghĩa là thực hiện các hoạt động nhằm tạo ra thị trường các hệ sinh thái từ những vùng đầm lầy Florida đến môi trường sống cần thiết cho cá hồi ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương để áp dụng hình thức quản lý rừng trong vùng Đông Bắc, Chính phủ Mỹ đưa ra các sáng kiến của mình nhằm góp phần đáng kể đối với việc tích lũy những bài học mới về ứng dụng các công cụ chi trả hệ sinh thái cho quản lý các dịch vụ hệ sinh thái có liên quan tới nguồn nước [5].
- Brazil: Chính phủ Brazil đã tài trợ cho chương trình Bolsa Floresta để hỗ trợ cho hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng với đơn giá 360 USD/hộ/năm [5]. - Châu Phi: Tổng số chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Châu Phi là 20 với khoảng 10 chương trình đang hoạt động vào năm 2008 đem lại tổng giá trị chi trả là 62,7 triệu USD với gần 200 ngàn ha đất. Hầu hết các trường hợp thực hiện ở theo các chương trình bảo tồn hệ sinh thái quốc gia, trong đó bao gồm đầu tư cho tăng cường và phục hồi các dịch vụ vùng đầu nguồn, và cải thiện năng lực cho cộng đồng địa phương nhằm xác định, hình thành và thực hiện các hoạt động quản lý gắn với hệ sinh thái [5], [11]. e 9 - Châu Á: Chi trả DVMTR cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại nhiều nước như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal… đặc biệt là Trung Quốc đã xây dựng các chương trình chi trả DVMTR với quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp sử dụng rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ các bon và vẻ đẹp cảnh quan [9]; Số lượng và chủng loại các chương trình chi trả dịch vụ hệ sinh thái ở Trung Quốc đang tăng nhanh trong những năm gần đây, từ 8 chương trình năm 1999 đến hơn 47 chương trình ở năm 2008 với tổng giá trị giao dịch khoảng 7,8 tỷ USD đã tác động đến hơn 290 triệu ha đất.
Các chương trình chi trả ở Trung Quốc nhằm nhằm thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong “các cơ chế đền bù sinh thái”. Một động lực tiềm năng khác cho dịch vụ sinh thái ở cả cấp tỉnh và quốc gia là từ hệ thống mới về mua bán quyền sả thải vào nước và hệ thống này có sẽ thực hiện sớm ở nhiều nơi trên toàn quốc [5], [11]. Từ các mô hình chi trả DVMTR ở các nước cho thấy, quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học.