CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG 1. Khái niệm về DVMT Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ và chức năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế. Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm: Chức năng phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, hấp thụ Cacbon.
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ cacbon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng môi trường rừng như: điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học, …(Nghị định 99, 2010). Khái niệm về chi trả DVMT Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES) hay còn được gọi là chi trả cho DVMT được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ hệ sinh thái.
Chi trả cho dịch vụ môi trường có thể được hiểu cụ thể là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc về mặt pháp lý và với hợp đồng này thì một hay nhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác định nhiều người bán và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả thuận. Định nghĩa bao gồm chi trả là gì và chi trả cho cái gì và nó liên quan đến cơ chế. Chi trả DVMTR là quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các DVMTR trả tiền cho người cung ứng DVMTR (Nghị định 99, 2010). Bản chất của chương trình chi trả DVMTR Chính sách chi trả DVMTR là quan hệ giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ rừng.
Chủ rừng nào có diện tích rừng nhiều, có khả năng cung ứng nhiều dịch PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 vụ và có nhiều người sử dụng dịch vụ thực hiện chi trả thì chủ rừng đó sẽ được hưởng nhiều về khoản kinh phí được trả. Nếu chủ rừng có ít diện tích, khả năng cung ứng ít và ít người sử dụng dịch vụ thì khoản kinh phí được hưởng từ chi trả DVMTR sẽ hạn chế. Đây là mối quan hệ rất công bằng của Chương trình này. Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR Về chi trảDVMTR, đã đưa ra bốn nguyên tắc để xây dựng cơ chế chi trả, bao gồm: - Tính thực tế: Việc chi trả phải gắn kết với các mức thay đổi đo đếm được của dịch vụ môi trường.
- Tính điều kiện: Chi trả dựa trên hiệu quả, kết quả đầu ra. Tính điều kiện cũng có nghĩa việc chi trả chỉ được thực hiện nếu người cung cấp dịch vụ tuân thủ hợp đồng. Tính điều kiện đồng thời yêu cầu các chính sách và khung thể chế hỗ trợ cùng với sự giám sát hiệu quả và phạt vi phạm đối với các trường hợp không tuân thủ, điều mà các mô hình Chi trả DVMT khó đạt được trên thực tế. - Tính tự nguyện: Chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do và được thông tin trước của tất cả các bên, với mức đền đáp phù hợp với tất cả mọi bên tham gia.
- Tính hướng nghèo. Chính sách Chi trả DVMTR tại Việt Nam được quy định ở năm nguyên tắc, bao gồm: - Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng. - Thực hiện chi trả DVMTR bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp. - Tiền chi DVMTR thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là tiền của bên sử dụng DVMTR ủy thác cho Quỹ để trả cho các chủ rừng cung ứng DVMTR.
- Tiền chi trả DVMTR là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng DVMTR và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật. - Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng; phù hợp với hệ thống luật pháp của Việt Nam và điều ước Quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập (Lê Văn Hưng, 2013). Loại rừng và loại dịch vụ được trả tiền DVMTR Rừng được chi trả tiền DVMTR là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều DVMTR, gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Loại DVMTR được chi trả, bao gồm: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Nguyên tắc chi trả DVMTR Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng. Thực hiện chi trả DVMTR bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp. Tiền chi DVMTR thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là tiền của bên sử dụng DVMTR ủy thác cho Quỹ để trả cho các chủ rừng cung ứng DVMTR. Tiền chi trả DVMTR là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử DVMTR và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.
Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng; phù hợp với hệ thống luật pháp của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập (Nghị định 99, 2010). Hình thức chi trả DVMTR - Chi trả trực tiếp: + Chi trả trực tiếp là bên sử dụng DVMTR trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng DVMTR. + Chi trả trực tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng DVMTR có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng DVMTR không cần thông qua tổ chức trung gian. Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và cung ứng DVMTR, trong đó mức chi trả không thấp hơn mức do Nhà nước quy định đối với cùng một loại DVMTR.
- Chi trả gián tiếp: + Chi trả gián tiếp là bên sử dụng DVMTR trả tiền cho bên cung ứng DVMTR ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 + Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng DVMTR không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng DVMTR mà thông qua tổ chức trung gian. Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá DVMTR do Nhà nước quy định (Nghị định 99, 2010). Đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền DVMTR - Các cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện.
- Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch. - Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất. - Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. - Các đối tượng phải trả tiền DVMTR cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản được quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Phương pháp xác định mức chi trả DVMTR Theo các nguyên tắc trên, lượng chi trả cho DVMT thường được xác định dựa trên những lựa chọn của người mua và người bán, các cân nhắc về cung cầu, công bằng, khả năng tài chính và tính hiệu quả. Các bên có liên quan khác nhau thường có quan điểm khác nhau về mối liên quan giữa các hình thức sử dụng đất và khả năng cung cấp dịch vụ môi trường. Thông thường có ba hệ thống kiến thức tồn tại song song về vấn đề này, gọi là kiến thức địa phương, kiến thức phổ thông và kiến thức khoa học. Tong quá trình xây dựng cơ chế chi trả DVMT, điều quan trọng là các bên liên quan thống nhất được quan điểm và mục tiêu dự kiến về dịch vụ môi trường, chẳng hạn như chất lượng và khối lượng nước, cacbon, đa dạng sinh học là thực tế và có thể đạt được thông qua cơ chế chi trả DVMT.
Trên thực tế, vấn đề chính trong việc xây dựng cơ chế chi trả DVMT là xác định được mức chi trả hoặc giá hợp đồng nhằm phản ánh được giá trị của việc bảo tồn, đồng thời bù đắp cho những chi phí cơ hội của chủ sở hữu đất (Hoàng Minh Hà và cs, 2008). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 1.