ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có giá trị to lớn về kinh tế và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc miền núi. Lợi ích mang lại từ rừng là vô cùng quan trọng đối với sự sống của nhân loại và các loài sinh vật khác. Ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng còn có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, hấp thụ CO2, hạn chế lũ lụt,chống cát bay, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên. Những giá trị này của rừng đã vượt xa giá trị cung cấp gỗ, lâm sản truyền thống, đặc biệt là vai trò quan trọng trong ứng phó với những biến đổi khí hậu toàn cầu.các chức năng này của rừng được hiểu là các giá trị môi trường rừng.
Trong những năm gần đây, nhu cầu đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng rất lớn nhưng phương thức đầu tư cho rừng vẫn chủ yếu thông qua ngân sách Nhà nước và chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Mặt khác xét về mặt kinh tế, rừng tạo ra giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp. Giá trị sử dụng trực tiếp được biểu hiện thông qua lợi ích từ các hoạt động khai thác lâm sản. Giá trị sử dụng gián tiếp là giá trị các dịch vụ do rừng tạo ra và được nhiều người, thậm chí là cả xã hội cùng hưởng lợi như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, cảnh quan vẻ đẹp thiên nhiên, hấp thụ lưu giữ các bon.
đây là loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị rất lớn (chiếm tới 60- 80%) tổng giá trị kinh tế mà rừng tạo ra. Trên thực tế các giá trị này của rừng đang được đánh giá thấp hơn so với giá trị vốn có của chúng. Trong những năm qua, người lao động sản xuất trong ngành lâm nghiệp trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng chỉ được hưởng một phần giá trị sử dụng trực tiếp hoặc được hưởng một phần tiền công bảo vệ rừng do Nhà nước chi trả, còn giá trị sử dụng gián tiếp của rừng, chủ rừng hầu như không được hưởng. 2 Xuất phát từ thực trạng trên, vấn đề cấp thiết là cần phải huy động nguồn lực của xã hội thông qua cơ chế "người hưởng lợi từ rừng có trách nhiệm đóng góp cho người trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng", xác lập mối quan hệ kinh tế giữa người bảo vệ và phát triển rừng và người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng.
Nhận thức được vấn đề này, từ năm 2004, Chính phủ đã thiết lập cơ sở pháp lý nhằm thực hiện chính sách chi trả DVMTR thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi. Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Chính sách thí điểm chi trả DVMTR theo Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 áp dụng tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Sau hai năm thí điểm, ngày 24/9/2010 Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số99/2010/NĐ-CP để triển khai chính sách chi trả DVMTR trên phạm vi toàn quốc. Qua triển khai chính sách đã cho thấy tính hữu dụng của nó trong công tác bảo vệ rừng, đặc biệt bước đầu đã tạo ra một nguồn ngân sách cho việc đầu tư phục hồi, bảo vệ, duy trì bền vững các giá trị của hệ sinh thái rừng.
Lưu vực hồ Sông Đà nhà máy thủy điện Hoà Bình giữ vai trò hết sức quan trọng đối với vùng đồng bằng Bắc Bộ, có chức năng phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước cho Nhà máy thủy điện Hòa Bình, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc anh em. Hiện tại đời sống, kinh tế nhân dân trong lưu vực còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người dưới mức bình quân chung của tỉnh. Lưu vực hồ Sông Đà nhà máy thủy điện Hoà Bình thuộc tỉnh Hòa Bình nằm trên địa bàn 06 huyện, thành phố.
Việc quản lý rừng bền vững ở lưu vực hồ Sông Đà là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo an toàn hồ chứa, an ninh năng lượng cho cả nước, an ninh môi trường cho cả vùng và tỉnh Hòa Bình, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt. 3 Nhằm nghiên cứu một cách khách quan về thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nói chung, lưu vực hồ Sông Đà nhà máy thủy điện Hòa Bình nói riêng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chi trả dịch vụ môi trường rừng tại lưu vực hồ Sông Đà nhà máy thủy điện Hòa Bình”. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1 Heading 1_Tran Ngoc The_Chuyển sang chữ trắng trƣớc khi in 1.1 Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm môi trường rừng: Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các tiêu bản, nơi cư trú và sinh sản của loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác.
- Khái niệm lưu vực phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng: Lưu vực là một vùng diện tích tự nhiên được giới hạn bởi đường phân thủy đón nhận nước rơi và hội tụ về một dòng sông, suối, đầm, hồ, được xác định bởi đường ranh giới khép kín theo đường phân thủy từ điểm đầu ra của lưu vực; trong mỗi lưu vực có thể bao gồm nhiều lưu vực nhỏ hơn gọi là tiểu lưu vực. Điểm đầu của lưu vực là điểm thoát nước mặt chủ yếu của lưu vực như: điểm xả nước chính của đập thủy điện, điểm thu nước của nhà máy cấp nước sạch hoặc cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước lưu vực. - Khái niệm dịch vụ môi trường rừng: Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được hiểu là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân.Cụ thể hơn, dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng các giá trị sử dụng trực tiếp hay gián tiếp mà con người hưởng thụ từ các chức 5 năng của rừng. Trong đó, giá trị sử dụng trực tiếp do rừng mang lại là giá trị của những nguyên liệu thô và những sản phẩm vật chất được sử dụng trực tiếp trong những hoạt động sản xuất, tiêu dùng, trao đổi, mua bán của con người trên thị trường như thức ăn, gỗ, cây thuốc, vật liệu, gen… Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường và chức năng của rừng tạo ra.
Các giá trị cung ứng tự nhiên cho cả xã hội cùng hưởng lợi như: Điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, ngăn chặn xói mòn, hấp thụ cacbon, hạn chế lũ lụt, ngăn chặn sạt lở đất, chống cát bay, chống sa mạc hóa đất đai, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp cảnh quan vẻ đẹp tự nhiên… - Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng: Chi trả dịch vụ môi trường là nhiệm vụ của những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái môi trường để chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái môi trường đó. Bản chất của việc chi trả dịch vụ môi trường là tạo cơ chế khuyến khích, mang lại lợi ích cho người đang sử dụng các hệ sinh thái môi trường, để bảo vệ hoặc tăng cường các dịch vụ môi trường phục vụ lợi ích của cộng đồng. Giá trị sử dụng gián tiếp của rừng là “loại hàng hóa đặc biệt” có giá trị rất lớn, chiếm tới 60% - 80% tổng giá trị kinh tế mà rừng tạo ra. Vì vậy, phải được hình thành thị trường để trao đổi giữa người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng gián tiếp của rừng với người hưởng lợi các giá trị sử dụng này.Các hoạt động trao đổi cung ứng dịch vụ các giá trị sử dụng từ môi trường rừng được gọi là “Chi trả dịch vụ môi trường rừng”.2 Các loại dịch vụ môi trường rừng Một l , Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối.
6 Con người đang phải trả giá cho những hành động tàn phá rừng đầu nguồn điển hình là những thảm họa tự nhiên làm ảnh hưởng đến cuộc sống hay sự ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Rừng có chức năng quan trọng trong việc hạn chế xói mòn đất nhiều quốc gia ở vùng nhiệt đới, xói mòn đất là nguyên nhân gây ra thoái hóa đất hay hiện tượng sa mạc hóa, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp. Khi các khu rừng bị tàn phá bề mặt đất chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước mưa, dòng chảy làm cho hiện tượng xói mòn diễn ra nhanh hơn. Hai là, Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội.
Rừng điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt, hạn hán. Một nguồn nước sau khi được thực vật sử dụng sẽ thấm sâu vào lòng đất, tạo thành mực nước ngầm và bổ sung vào dòng chảy sông suối. Có rừng, những cơn mưa lớn sẽ ít có cơ hội chuyển thành lũ, những đợt nắng nóng sẽ có thể được rút ngắn lại và không chuyển thành hạn hán. Ba là, Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững.
Nóng lên toàn cầu là vấn đề mới được ghi nhận trong vài thập kỷ trở lại đây. Biến đổi khí hậu là một hệ quả của nóng lên toàn cầu, ảnh hưởng lên tất cả các thành phần của môi trường sống như nước biển dâng cao, gia tăng các loại bệnh tật, suy giảm đa dạng sinh học. Các nhà nghiên cứu khoa học lo ngại rằng, sự gia tăng của các khí gây hiệu ứng nhà kính (đặc biệt là CO2) sẽ gây nên những biến đổi khí hậu không lường trước được. Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại biến đổi khí hậu do ảnh hưởng của nó đến chu trình các bon.