Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2011 - 2020, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Việt Nam đã huy động được 16.746 tỷ đồng, bình quân đạt 1.674 tỷ đồng/năm, chiếm tới 18,5% tổng đầu tư toàn xã hội vào ngành lâm nghiệp và tương đương 95,3% nguồn ngân sách nhà nước chi cho lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách tại các khu bảo tồn thiên nhiên cấp cơ sở vẫn gặp nhiều khó khăn trong quản lý tài chính và đánh giá tác động thực tiễn. Vườn quốc gia Bù Gia Mập tại tỉnh Bình Phước là vùng đệm sinh thái trọng yếu với tổng diện tích tự nhiên 25.598,24 ha, sở hữu tỷ lệ che phủ rừng lên đến 99,08% và là sinh cảnh của 1.114 loài thực vật cùng 106 loài thú quý hiếm.

Vấn đề nghiên cứu then chốt là đánh giá toàn diện tính hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR trong việc bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên gắn với giải quyết sinh kế cho cộng đồng dân cư bản địa. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của tác giả Nguyễn Quốc Hội, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Quang Bảo, tập trung vào hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, phân tích thực trạng triển khai và các tác động kinh tế, xã hội, môi trường của chính sách DVMTR tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập trong giai đoạn 2013 - 2021; Thứ hai, xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách gắn liền với phát triển bền vững cộng đồng vùng đệm. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích, góp phần duy trì bền vững 25.341,62 ha rừng tự nhiên và nâng cao thu nhập cho hơn 595 hộ gia đình nhận khoán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai khung lý thuyết nền tảng trong quản trị tài nguyên và kinh tế môi trường: Lý thuyết Chi trả Dịch vụ Hệ sinh thái (PES) theo khung chuẩn của các tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế với 5 nguyên tắc giao dịch tự nguyện có điều kiện, và Lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM). Mô hình nghiên cứu tiếp cận theo cấu trúc logic đa ngành (kinh tế - sinh thái - xã hội) để phân tích dòng luân chuyển tài chính từ 17 đơn vị sử dụng dịch vụ ủy thác đến các đối tượng cung ứng DVMTR. Các khái niệm trọng tâm bao gồm:

  1. Dịch vụ môi trường rừng: Hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng từ hệ sinh thái theo Luật Lâm nghiệp 2017, bao gồm bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, duy trì cảnh quan và hấp thụ carbon.
  2. Cơ chế chi trả gián tiếp: Phương thức điều phối tài chính thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với tỷ lệ nguồn thu điều phối từ Quỹ Trung ương chiếm 96,6% và Quỹ tỉnh chiếm 3,4%.
  3. Hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng: Công cụ pháp lý xác lập trách nhiệm tuần tra quản lý diện tích rừng đặc dụng gắn với quyền lợi nhận tiền chi trả hàng năm của cộng đồng dân cư địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong khung thời gian 2013 - 2021. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống kiểm kê rừng giai đoạn 2011 - 2020 và báo cáo tài chính giải ngân 211,787 tỷ đồng của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước.

Về thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra với cỡ mẫu đại diện gồm 150 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng và 20 hộ dân không tham gia nhận khoán để đối chứng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng tại 2 xã trọng điểm là Đắk Ơ và Bù Gia Mập nhằm phản ánh chân thực cộng đồng có 48,4% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số như Stiêng và Mơ Nông. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ thuộc Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Bù Gia Mập, Quỹ tỉnh và Ban quản lý Vườn quốc gia; kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và phân tích SWOT. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel thông qua phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng chính xác biến động đơn giá chi trả (tăng từ 250.000 đồng/ha lên 600.000 đồng/ha) và kiểm định mức độ đóng góp của dòng tiền DVMTR vào cơ cấu kinh tế hộ gia đình qua các năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực địa tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã ghi nhận 4 kết quả nổi bật:

  1. Tăng trưởng diện tích chi trả và nguồn lực tài chính bền vững: Tổng diện tích rừng được hưởng chính sách DVMTR đạt 25.362,86 ha, tương đương 99,08% diện tích tự nhiên của Vườn. Nguồn kinh phí chi trả giải ngân cho đơn vị đạt mức 14,98 tỷ đồng vào năm 2021, tạo nguồn lực chủ động cho công tác tuần tra bảo vệ mà không phụ thuộc vào ngân sách cấp phát.
  2. Phân bổ diện tích khoán bảo vệ rừng tập trung cho cộng đồng địa phương: Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã giao khoán 18.907,13 ha cho 10 cộng đồng dân cư vùng đệm, chiếm tới 74,5% tổng diện tích được chi trả DVMTR và nhận về 9,795 tỷ đồng (chiếm 67,1% tổng kinh phí chi trả năm 2020). Diện tích còn lại 6.344 ha (25,5%) được giao cho 5 đơn vị vũ trang và 1 tổ chức công đoàn.
  3. Thu nhập hộ nhận khoán tăng trưởng 240%: Mức chi trả bình quân trên mỗi hecta rừng đã tăng mạnh từ 250.000 đồng/ha/năm (giai đoạn 2013 - 2017) lên 600.000 đồng/ha/năm (năm 2021). Với hạn mức nhận khoán 30 - 40 ha/hộ, thu nhập thực tế từ DVMTR của mỗi hộ tăng từ 7,5 - 11 triệu đồng/năm lên 18 - 20 triệu đồng/năm, chiếm từ 25% đến 30% tổng thu nhập hàng năm của hộ gia đình.
  4. Nâng cao hiệu quả bảo vệ tài nguyên và giảm thiểu vi phạm: Tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên được giữ vững ở mức 99,91% với trữ lượng gỗ đạt 5.804,40 nghìn m3. Nhờ mạng lưới 600 lao động địa phương phối hợp với 60 cán bộ kiểm lâm chốt chặn tại 10 trạm, số vụ phá rừng, khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã trái phép đã giảm trên 80% so với thời điểm trước năm 2011.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính thúc đẩy nguồn thu DVMTR tăng đột biến bắt nguồn từ việc thực thi Nghị định 147/2016/NĐ-CP, tăng mức điều tiết thủy điện từ 20 đồng/kWh lên 36 đồng/kWh và nước sạch lên 52 đồng/m3. Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu, nguồn tiền từ các nhà máy thủy điện chiếm tỷ trọng vượt trội với 63,5%, tiếp đến là sản xuất nước sạch chiếm 35%, tạo nguồn tài chính dồi dào phục vụ bảo vệ 25.341,62 ha rừng tự nhiên.

So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế tại khu vực Đông Nam Á (mức chi trả PES dao động từ 30 đến 120 USD/ha/năm), đơn giá 600.000 đồng/ha/năm (khoảng 26 USD/ha/năm) tại Bù Gia Mập là mức chi trả khá cao tại Việt Nam, vượt trội so với mức bình quân của nhiều khu bảo tồn phía Bắc. Thông qua bảng phân tích kinh tế hộ, nghiên cứu khẳng định tiền DVMTR đóng vai trò là nguồn tiền mặt quan trọng giúp 595 hộ đồng bào ổn định cuộc sống. Dẫu vậy, việc áp dụng phương thức chi trả điện tử qua ViettelPay vẫn gặp trở ngại do hạ tầng mạng di động tại các xã vùng biên còn yếu và tỷ lệ hộ có điện thoại thông minh chỉ đạt dưới 40%, đòi hỏi phải có giải pháp công nghệ thích ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện chính sách DVMTR giai đoạn 2023 - 2030:

  1. Đa dạng hóa nguồn thu từ các loại hình dịch vụ môi trường mới: Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước triển khai thu tiền DVMTR từ các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn và cơ sở nuôi trồng thủy sản theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, phấn đấu tăng tổng nguồn thu thêm 15% - 20% mỗi năm trong giai đoạn 2024 - 2026.
  2. Điều chỉnh tăng đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước nâng mức chi trả khoán bảo vệ rừng từ 600.000 đồng/ha lên 800.000 đồng/ha trước năm 2025, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập từ nhận khoán của 595 hộ dân lên trên 25 triệu đồng/hộ/năm.
  3. Hoàn thiện hạ tầng viễn thông và cơ chế chi trả linh hoạt: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông lắp đặt thêm 3 trạm phát sóng tại vùng đệm xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập trong năm 2024, đồng thời duy trì kết hợp chi trả tài khoản và tiền mặt để đảm bảo tỷ lệ giải ngân đạt 100% đúng tiến độ.
  4. Hiện đại hóa công tác tuần tra và nâng cao năng lực cộng đồng: Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập tổ chức 12 khóa tập huấn kỹ năng sử dụng thiết bị định vị GPS và giám sát rừng số hóa cho 10 cộng đồng nhận khoán trước quý IV/2024, bảo đảm giám sát chặt chẽ toàn bộ 25.362,86 ha rừng được giao khoán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu luận văn mang lại giá trị thực tiễn và lý luận chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng các cấp: Cung cấp bài học kinh nghiệm trong công tác điều phối 211,787 tỷ đồng tiền DVMTR và thiết lập cơ chế giám sát tài chính minh bạch cho 45 tỉnh thành đang thực hiện chính sách.
  2. Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và phòng hộ toàn quốc: Tham khảo quy trình tuyển chọn và ký hợp đồng giao khoán 25.362,86 ha rừng cho 16 đơn vị cộng đồng và lực lượng vũ trang, tối ưu hóa mô hình tuần tra bảo vệ rừng tận gốc.
  3. Học viên sau đại học và nhà nghiên cứu lâm nghiệp: Khai thác phương pháp luận đánh giá tác động đa chiều, bộ công cụ phân tích SWOT và dữ liệu khảo sát thực tế trên 150 hộ gia đình vùng đệm miền Đông Nam Bộ.
  4. Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ và dự án quốc tế: Sử dụng số liệu thực địa để thiết kế các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học, lồng ghép chính sách chi trả dịch vụ hệ sinh thái với mục tiêu cải thiện sinh kế cho 48,4% đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách chi trả DVMTR tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập mang lại nguồn thu nhập bao nhiêu cho mỗi hộ nhận khoán? Giai đoạn 2013 - 2017, mỗi hộ nhận khoán 30 - 40 ha nhận được từ 7,5 đến 11 triệu đồng/năm với mức chi trả 250.000 đồng/ha. Đến năm 2021, khi đơn giá tăng lên 600.000 đồng/ha, thu nhập bình quân từ DVMTR đạt từ 18 đến 20 triệu đồng/năm, giúp cải thiện đáng kể đời sống cho 595 hộ dân tộc thiểu số.

Nguồn thu tiền DVMTR tại tỉnh Bình Phước chủ yếu đến từ các đối tượng sử dụng nào? Theo số liệu từ Quỹ tỉnh giai đoạn 2012 - 2020 với tổng thu đạt 211,787 tỷ đồng, các nhà máy thủy điện là nguồn thu lớn nhất chiếm 63,5% (thu nội tỉnh đạt 4,482 tỷ đồng), các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch chiếm 35%, phần còn lại đến từ hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái.

Diện tích rừng nào tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đang được chi trả tiền DVMTR? Toàn bộ 25.362,86 ha đất rừng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đều được hưởng tiền DVMTR, trong đó rừng tự nhiên chiếm 25.341,62 ha (99,91%). Diện tích này bao gồm 4.940,95 ha rừng giàu, 1.062,3 ha rừng trung bình và 19.207,89 ha rừng hỗn giao gỗ tre nứa có giá trị bảo tồn cao.

Rào cản lớn nhất khi thực hiện chi trả tiền DVMTR qua tài khoản số tại Bù Gia Mập là gì? Hạn chế lớn nhất là tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 48,4% dân số vùng đệm, nhiều hộ chưa có điện thoại thông minh và hạn chế kỹ năng số. Đồng thời, sóng viễn thông tại các xã vùng biên như Đắk Ơ còn chập chờn, gây khó khăn cho việc giải ngân qua ví điện tử ViettelPay.

Chính sách DVMTR đã giúp giảm thiểu tình trạng vi phạm lâm luật tại địa phương ra sao? Nhờ huy động được 600 lao động địa phương cắm chốt tại 10 trạm kiểm lâm và 2 chốt xung yếu, số vụ khai thác gỗ lậu và săn bắt thú rừng đã giảm trên 80% so với trước năm 2011, góp phần giữ vững tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên đạt trên 99%.

Kết luận

  • Khẳng định DVMTR là nguồn tài chính bền vững: Đảm bảo nguồn kinh phí ổn định hàng năm để quản lý, bảo vệ 25.362,86 ha rừng tự nhiên mà không phụ thuộc vào ngân sách.
  • Nâng cao sinh kế cộng đồng vùng đệm: Tăng đơn giá nhận khoán lên 600.000 đồng/ha/năm, mang lại thu nhập 18 - 20 triệu đồng/hộ/năm cho 595 hộ dân.
  • Bảo tồn nguyên vẹn đa dạng sinh học: Giữ vững tỷ lệ che phủ rừng 99,08%, bảo vệ sinh cảnh an toàn cho 1.114 loài thực vật và 106 loài động vật quý hiếm.
  • Củng cố mô hình đồng quản lý: Thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa Ban quản lý Vườn quốc gia với 10 cộng đồng thôn bản và lực lượng vũ trang địa phương.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng: Cung cấp khung đánh giá thực tiễn để hoàn thiện chính sách lâm nghiệp giai đoạn 2023 - 2030 trên phạm vi cả nước.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là lượng hóa rõ nét hiệu quả đa chiều của cơ chế chi trả DVMTR đối với khu vực rừng đặc dụng Đông Nam Bộ. Trong lộ trình đến năm 2025, việc mở rộng dịch vụ hấp thụ carbon và nâng cấp hệ thống hạ tầng số hóa là yêu cầu cấp thiết. Độc giả và các nhà quản lý quan tâm có thể liên hệ tác giả hoặc tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp để khai thác trọn vẹn bộ dữ liệu và giải pháp chi tiết.