chương 1, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy đinh như sau: - Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường. - Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết. - Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật. - Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng Theo Nghị định số 99/NĐ-CP của Chính phủ, có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng: - Chi trả trực tiếp: + Chi trả trực tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. + Chi trả trực tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không cần thông qua tổ chức trung gian. Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và cung ứng dịch vụ môi trường rừng phù hợp với quy định tại Nghị định này, trong đó mức chi trả không thấp hơn mức do Nhà nước quy định đối với cùng một loại dịch vụ môi trường rừng. n 12 - Chi trả gián tiếp: + Chi trả gián tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; + Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng mà thông qua tổ chức trung gian theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.
Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá dịch vụ môi trường rừng do Nhà nước quy định. Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Nhiều nghiên cứu hiện nay đã đánh giá giá trị của rừng theo quan điểm kinh tế, nghĩa là lượng hóa các lợi ích mà rừng mang lại cho cuộc sống con người qua các con số chứ không còn đơn thuần là kể ra những lợi ích đó. Dựa trên chính các kết quả này, giá trị dịch vụ môi trường rừng ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn. Các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi thế giới đã chia ra cơ cấu cho các loại dịch vụ môi trường rừng là: hấp thụ các bon chiếm 27%; bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; phòng hộ đầu nguồn chiếm 21%; bảo vệ cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10%.
Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng của việc thay đổi trong nhận thức của con người về các giá trị của dịch vụ môi trường rừng. Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có chức năng bảo vệ các khu vực hạ lưu, vì thế Việt Nam đã xác định cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn thay thế cho các phương pháp trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hàng hóa. Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để hiểu và tiếp thu “Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng”. Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai dự án chi trả dịch vụ môi trường đã được chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20.
Rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành, điển hình như nghiên cứu của Trường Đại học California, nhằm xác định khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chi trả cho ai và n 13 mức chi trả bao nhiêu. Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của rừng trong việc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa ra mức chi trả của xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng. Đây là cơ sở tiền đề cho các nước đi sau, như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào thực tiễn bảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng. Thực tế cho thấy, PES đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, châu Á, Đông Âu, châu Mỹ Latinh và đã có những thành công nhất định.
Trong đó, Costa Rica là một trong những nước đầu tiên xây dựng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm giá trị hấp thụ các bon, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan. Thành công của các nước đi trước là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS) - một chính sách còn hết sức mới mẻ này. Đối tượng rừng được đưa vào xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng - Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc quy hoạch rừng phòng hộ và rừng đặc dụng - Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng và rừng sản xuất đủ tiêu chuẩn phòng hộ thì sẽ xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng trong thời gian chưa khai thác. Nguyên tắc xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng - Giá trị dịch vụ môi trường rừng được xác định theo từng loại rừng: rừng gỗ, rừng hỗn giao, tre nứa (đối với rừng tự nhiên) và rừng đã có trữ lượng và chưa có trữ lượng (đối với rừng trồng).
- Chỉ xác định những giá trị gián tiếp khả thi và có khả năng tính toán được (thông qua kết quả nghiên cứu thực tế đã được công bố tại Việt Nam). Đối tượng có nghĩa vụ chi trả giá trị dịch vụ môi trường rừng - Các tổ chức, ác nhân sử dụng trực tiếp các giá trị dịch vụ môi trường rừng để sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh các sản phẩm được hưởng lợi từ rừng, bao gồm: các công trình thủy lợi, thủy điện, nước sinh hoạt, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. n 14 - Các tổ chức, cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại đến môi trường rừng như khai thác khoáng sản, công trình giao thông và các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm không khí. Đối tượng được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng - Các ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng được nhận phí chi trả dịch vụ môi trường rừng để đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
- Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, khoán bảo vệ rừng là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. - Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được giao đất, giao rừng sản xuất (rừng trồng và rừng tự nhiên), khi rừng đã đủ tiêu chuẩn phòng hộ trong thời gian chưa khai thác sẽ được hưởng phí chi trả dịch vụ hệ sinh thái đối với giá trị phòng hộ do rừng tạo ra. Cơ chế quản lý và sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng - Đối với trường hợp chi trả trực tiếp: tiền thu được từ chi trả các dịch vụ môi trường rừng sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định của pháp luật, người được chi trả có toàn quyền quyết định việc sử dụng số tiền này để đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng. - Đối với trường hợp chi trả gián tiếp: tiền thu được từ chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng như sau: + 10% chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng + 90% chi cho các hoạt động của người được chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Nếu người được chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức nhà nước, được sử dụng 10% cho chi phí quản lý, 80% cho việc trả tiền công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, thôn bản. Các mô hình PES thành công trên thế giới và các nghiên cứu PFES ở Việt Nam 2. Các mô hình PES thành công trên thế giới - PES ở châu Mỹ: Mỹ là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình PES sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện “Chương n 15 trình duy trì bảo tồn”, đã chi trả cho nông dân để trồng thảm thực vật lưu niên đất trên đất trồng nhạy cảm về môi trường. Hiện nay, cơ chế PES được áp dụng thành công và hiệu quả, tạo ra cơ chế quản lý bền vững các tài nguyên thiên nhiên.
Ví dụ, ở Hawaii, việc bảo vệ rừng đầu nguồn để duy trì nguồn nước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt và tạo điều kiện cho phát triển du lịch, nông nghiệp và các ngành nghề khác. Hawaii đã áp dụng chính sách mua lại đất hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn. Ở Oregon, Portland, áp dụng chính sách bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng. Từ việc xác định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ đã phát triển du lịch hệ sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các khu rừng bị khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và du khách về ý thức bảo vệ rừng, … Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ cho các chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố.
Các hoạt động hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền bán nước cho người sử dụng nước ở thành phố, kể cả du khách.