Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Lê Thị Mai (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) tập trung vào đề tài "Nghiên cứu, đề xuất một số mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo", dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Hải.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả nêu rõ hệ sinh thái rừng cung cấp nhiều giá trị và dịch vụ thiết yếu cho xã hội như cung cấp thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, hấp thụ carbon và điều tiết nguồn nước. Tuy nhiên, các dịch vụ này thường bị xem là tài sản chung và được khai thác, sử dụng miễn phí. Tình trạng khai thác lãng phí khiến tài nguyên bị suy giảm nghiêm trọng, trong khi những người trực tiếp bảo vệ, gìn giữ rừng chưa được hưởng lợi ích tương xứng và các bên thụ hưởng dịch vụ chưa thực hiện chi trả nghĩa vụ tài chính. Để khắc phục bất cập này, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường (PES), cụ thể là chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), đã được nghiên cứu và áp dụng nhằm gắn trách nhiệm kinh tế của bên thụ hưởng với bên cung ứng dịch vụ.
Tại địa bàn nghiên cứu, Vườn quốc gia (VQG) Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số 601/NN-TCCB/QĐ ngày 15/05/1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có ranh giới hành chính thuộc 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên (trước là Bắc Thái) và Tuyên Quang. Vùng lõi vườn quốc gia có tổng diện tích 19.000 ha (nằm từ độ cao 400 m trở lên). Bao quanh vùng lõi là dải vùng đệm gồm 23 xã thuộc chân núi Tam Đảo.
Đời sống của đại bộ phận dân cư vùng đệm phụ thuộc lớn vào việc khai thác tài nguyên rừng, tỷ lệ đói nghèo cao. Tập quán canh tác nương rẫy lạc hậu "phát, đốt, chọc, tỉa" tồn tại lâu đời đã lấn sâu vào đất rừng: nếu như năm 1970 ranh giới rừng còn ở cốt 400 m thì thời điểm trước khi thành lập vườn quốc gia, người dân đã phát rẫy lên cốt 500 m, thậm chí lên đến cốt 600–700 m. Bên cạnh đó, nhu cầu chất đốt rất lớn (ước tính tiêu thụ khoảng 59.000 ste củi/năm cho toàn vùng đệm dựa trên định mức 0,4 ste/người/năm) và tình trạng khai thác trộm gỗ, măng, săn bắt động vật hoang dã gây áp lực thường xuyên lên công tác bảo tồn đa dạng sinh học của VQG Tam Đảo. Việc nghiên cứu các mô hình sinh kế gắn với cơ chế PFES là yêu cầu thực tế cấp thiết nhằm hỗ trợ giảm nghèo và giảm thiểu xâm hại rừng.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng vào việc xây dựng mô hình sinh kế cho cộng đồng địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các xã vùng đệm và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tam Đảo.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được những cơ hội và thách thức của việc áp dụng chính sách PFES tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo;
- Nghiên cứu, đề xuất được mô hình sinh kế cho cộng đồng vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo theo cơ chế PFES hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo;
- Đề xuất giải pháp thực hiện mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo;
- Đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng cho khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hệ sinh thái rừng và hiện trạng sử dụng đất vùng đệm VQG Tam Đảo; cơ sở pháp lý, khoa học và thực tiễn áp dụng cơ chế PFES; các bên liên quan (bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ).
- Phạm vi không gian: Khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo gồm 23 xã thuộc địa giới 3 tỉnh Vĩnh Phúc (7 xã thuộc huyện Tam Đảo, 1 xã thuộc huyện Bình Xuyên), Thái Nguyên (10 xã thuộc huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (5 xã thuộc huyện Sơn Dương); nghiên cứu thực địa tập trung tại huyện Tam Đảo, cụ thể là UBND 2 xã Đạo Trù và Hồ Sơn cùng Ban quản lý VQG Tam Đảo.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về khung lý thuyết, tác giả hệ thống hóa định nghĩa dịch vụ môi trường theo 4 nhóm chức năng sinh thái: dịch vụ sản xuất, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ. Theo phân loại của Wunder (2005), 4 loại dịch vụ có tiềm năng thương mại hóa lớn nhất gồm: bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ carbon và vẻ đẹp cảnh quan/du lịch sinh thái.
Nguyên lý vận hành cốt lõi của PFES dựa trên nguyên tắc "người được hưởng lợi phải trả tiền" (Beneficiary Pays Principle), thay thế cho nguyên tắc truyền thống "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle). Nền tảng kinh tế học của cơ chế này sử dụng lý thuyết về sự sẵn lòng chi trả (Willingness to Pay – WTP) và nguyên lý cân bằng lợi ích cận biên – chi phí cận biên của Ronald Coase. Theo khung phân tích của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2003), mức chi trả khả thi được xác định nằm trong khoảng: Thu nhập của chủ rừng thu được từ khai thác < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích mà bên sử dụng dịch vụ (như nhà máy thủy điện, công ty cấp nước) nhận được từ việc duy trì rừng.
Cơ sở pháp lý của nghiên cứu dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:
- Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH10 về phí và lệ phí;
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (lần đầu thể chế hóa khái niệm giá trị dịch vụ môi trường rừng);
- Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 phê duyệt Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006–2020;
- Luật Đa dạng sinh học năm 2008;
- Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ thí điểm chính sách PFES tại Sơn La và Lâm Đồng;
- Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên phạm vi toàn quốc (hiệu lực từ 01/01/2011).
Văn bản cũng tổng quan kinh nghiệm quốc tế (chương trình bảo tồn của Mỹ tại Hawaii, New York, Oregon; cơ chế tài chính FONAFIFO tại Costa Rica; quỹ nước tại Ecuador, Colombia, Mexico; doanh nghiệp Perrier Vittel tại Pháp; chính sách tại Trung Quốc, Philippines, Nepal) và các dự án thí điểm tại Việt Nam (Bảo tồn biển vịnh Nha Trang, dự án WWF tại Thừa Thiên Huế, dự án bảo vệ đầu nguồn Trị An tại Đồng Nai, chương trình RUPES tại Bắc Kạn, dự án AR-CDM tại Hòa Bình).
Phương pháp nghiên cứu thực hiện bao gồm:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các tài liệu quy hoạch, báo cáo kinh tế – xã hội, hiện trạng đa dạng sinh học từ VQG Tam Đảo, các viện nghiên cứu và các cơ quan ban ngành;
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (thực địa): Phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương, cán bộ quản lý VQG Tam Đảo, lãnh đạo UBND huyện Tam Đảo và UBND các xã vùng đệm (Đạo Trù, Hồ Sơn);
- Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) trong việc triển khai chính sách PFES tại địa phương;
- Phương pháp phân tích các bên liên quan: Xác định vai trò, nghĩa vụ, quyền lợi và mức độ ảnh hưởng của từng nhóm đối tượng (bên cung ứng, bên sử dụng, cơ quan điều phối trung gian);
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Tham vấn ý kiến của giảng viên hướng dẫn và các chuyên gia môi trường để xử lý các vướng mắc chuyên môn.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh suy thoái tài nguyên rừng và áp lực sinh kế tại vùng đệm VQG Tam Đảo; xác định mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện chính sách PFES và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo vệ rừng tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PES và PFES (khái niệm, bản chất, 2 nguyên tắc cơ bản theo Wunder, cơ chế WTP, mô hình World Bank); trình bày chi tiết nội dung Nghị định số 99/2010/NĐ-CP gồm hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp, cơ chế phân bổ nguồn thu (10% chi phí quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, 5% quỹ dự phòng, số còn lại điều phối cho chủ rừng). Tổng kết bài học từ các mô hình quốc tế và phân tích kết quả thu tiền DVMTR trên toàn quốc các năm 2011–2012 (đạt trên 1.193 tỷ đồng, trong đó năm 2012 đạt 1.130,8 tỷ đồng, tiêu biểu là các tỉnh Lâm Đồng, Lai Châu, Điện Biên, Kon Tum).
| Dự án thí điểm tiêu biểu |
Địa bàn và thời gian |
Loại dịch vụ |
Bên mua |
Bên cung ứng |
Cơ chế chi trả |
| Khu bảo tồn biển Hòn Mun |
Khánh Hòa (2002–2005) |
Vẻ đẹp cảnh quan |
Khách du lịch, công ty lữ hành |
Cộng đồng địa phương, Khu BTTN |
Thu phí khách du lịch (5.000–30.000 đ), trích 10–15% cho Quỹ phát triển thôn |
| Triển vọng tài chính bền vững |
Thừa Thiên Huế (2007–2008) |
Phòng hộ đầu nguồn, cảnh quan |
Khách du lịch, công ty nước, lữ hành |
Ban quản lý, cộng đồng |
Thuế nước đóng chai, phí tham quan, quỹ ủy thác bảo tồn |
| Bảo vệ đầu nguồn Trị An |
Đồng Nai (2008–2009) |
Phòng hộ đầu nguồn |
Công ty cấp nước |
KBT Vĩnh Cửu, BQL Tân Phú, dân địa phương |
Nguồn kinh phí hỗ trợ cộng đồng chuyển đổi sử dụng đất bền vững |
| RUPES |
Bắc Kạn (2008–2012) |
Nước, carbon, cảnh quan |
Dự án IFAD/3PA |
Cộng đồng thượng, trung, hạ lưu sông Tà Lèng |
Chi trả bằng tiền mặt và hiện vật phục vụ cải thiện sinh kế |
| AR-CDM |
Hòa Bình (2009–2012) |
Tích lũy carbon rừng |
Quỹ Phát triển Rừng (Honda tài trợ) |
Tổ chức phi lợi nhuận, người dân địa phương |
Chi trả công lao động trồng rừng; chia sẻ lợi nhuận gỗ 25:75 và carbon 50:50 |
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết 3 nhóm đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian bao quát 23 xã vùng đệm và thời gian thực hiện (05/2014 – 08/2014); xác định 5 nội dung nghiên cứu gắn liền với việc đánh giá thực trạng, xây dựng tiêu chí lựa chọn hệ sinh thái, đề xuất mô hình sinh kế và cơ chế chi trả; trình bày 5 phương pháp nghiên cứu khoa học được áp dụng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần này tập trung phân tích các dữ liệu thực địa và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, chính sách:
- Phân tích điều kiện tự nhiên, địa hình và thảm thực vật: Diện tích vùng đệm xác định theo Quyết định số 136/TTg và Quyết định số 273/NN-PTLN/QĐ là 15.515 ha (lấy từ đường đồng mức 100 m trở xuống chân núi). Địa hình chủ yếu thuộc cấp độ dốc I (<7%) với 10.623 ha và cấp độ dốc V (>35%) với 48 ha. Rừng trồng có 6.148,02 ha (17,21% diện tích tự nhiên vùng đệm), rừng tự nhiên còn 6.439,37 ha (chiếm 18,02%).
- Đánh giá hiện trạng kinh tế – xã hội: Toàn vùng đệm có 148.706 người (29.598 hộ), mật độ trung bình 204 người/km2. Dân cư phân bố không đều, chia thành 4 cấp mật độ; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1,66%/năm. Diện tích đất canh tác bình quân chỉ đạt 776 m2/nhân khẩu, năng suất lúa đạt 35–40 tạ/ha/năm không đủ bảo đảm lương thực. Toàn vùng có 5 đơn vị lâm nghiệp quốc doanh quản lý đất rừng (Lâm trường Lập Thạch 1.235 ha, Lâm trường Tam Đảo 1.040 ha, Trung tâm Đông Bắc Bộ 886,4 ha, Lâm trường Sơn Dương 8.909,9 ha, Lâm trường Đại Từ 2.159,9 ha).
- Hiện trạng giao đất giao rừng: Tổng hợp diện tích giao khoán tại các địa phương thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (3.733,5 ha), Tuyên Quang (1.152,8 ha) và Thái Nguyên (2.614,0 ha).
- Phân tích cơ hội, thách thức và cơ sở pháp lý: Nghị định số 99/2010/NĐ-CP quy định mức thu cố định gồm thủy điện 20 đ/kWh, cấp nước sạch 40 đ/m3, dịch vụ du lịch từ 1–2% doanh thu. Tuy nhiên, việc áp dụng đối với dịch vụ du lịch tại Tam Đảo gặp nhiều vướng mắc do doanh nghiệp chưa nhận thức rõ giá trị cảnh quan rừng đóng góp vào doanh thu, mức độ sẵn lòng chi trả khác nhau và thiếu cơ chế phân định rõ ràng các nhóm kinh doanh phải nộp phí.
- Đề xuất mô hình sinh kế và cơ chế chi trả: Đề xuất mô hình nông lâm kết hợp và mô hình du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng; làm rõ phương thức chi trả trực tiếp và gián tiếp, phân bổ trách nhiệm cụ thể của các bên liên quan.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu về tính khả thi của chính sách PFES tại vùng đệm VQG Tam Đảo, khẳng định cơ chế này là công cụ hữu hiệu tạo nguồn tài chính bền vững và hỗ trợ an sinh xã hội; kiến nghị các cơ quan quản lý hoàn thiện văn bản hướng dẫn và sớm triển khai thí điểm các mô hình đề xuất.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết hiện trạng tài nguyên đất đai và tình hình quản lý rừng vùng đệm VQG Tam Đảo qua các số liệu thống kê thực địa:
| Loại đất đai vùng đệm |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ (%) |
Chi tiết thành phần |
| Đất nông nghiệp |
11.547,43 |
32,3% |
Ruộng và hoa màu (6.482,78 ha); cây lâu năm (2.126,09 ha); nương rẫy (366,59 ha); ao hồ (203,97 ha) |
| Đất lâm nghiệp |
16.376,65 |
45,8% |
Rừng tự nhiên (6.439,37 ha); rừng trồng (6.148,02 ha); đất trống đồi trọc cần trồng rừng (3.965,19 ha) |
| Đất chuyên dùng |
3.200,16 |
9,0% |
Giao thông (1.003,13 ha); thủy lợi (800,66 ha); khai khoáng (359,41 ha); xây dựng (263,06 ha) |
| Đất ở |
1.376,65 |
3,9% |
Đất ở nông thôn (1.288,91 ha); đất ở đô thị thị trấn Tam Đảo (87,74 ha) |
| Đất chưa sử dụng |
3.200,16 |
9,0% |
Mặt nước sông suối (2.243,81 ha); các loại đất chưa sử dụng khác (956,35 ha) |
| Tổng cộng |
35.717,73 |
100,0% |
Toàn bộ địa giới 23 xã vùng đệm VQG Tam Đảo |
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất hai mô hình sinh kế gắn liền với cơ chế PFES cho cộng đồng vùng đệm:
- Mô hình nông lâm kết hợp: Tận dụng diện tích đất nương rẫy cố định (366,59 ha) và đất trống đồi núi trọc (3.965,19 ha) để trồng xen canh cây lâm nghiệp bản địa (lim xanh, thông đuôi ngựa, keo, bạch đàn) với cây ăn quả (vải thiều, nhãn, dứa, na, chuối) và cây công nghiệp thế mạnh (chè tại Đại Từ, trẩu, sở tại Sơn Dương). Mô hình này giúp duy trì thảm phủ phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn và tạo nguồn thu nông sản ngắn ngày để người dân giảm phụ thuộc vào việc đốn củi rừng tự nhiên.
- Mô hình dịch vụ du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng: Khai thác cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa của 8 cộng đồng dân tộc (đặc biệt là dân tộc thiểu số chiếm 37% dân số như Sán Dìu, Sán Chỉ, Dao). Cơ chế chi trả được thiết lập bằng cách trích nộp 1–2% doanh thu từ các cơ sở lưu trú, kinh doanh du lịch tại thị trấn Tam Đảo và các điểm nghỉ dưỡng xung quanh đưa vào Quỹ phát triển thôn bản, đồng thời tạo việc làm tại chỗ cho người dân bản địa thông qua cung ứng sản phẩm đặc sản và hướng dẫn du lịch.
Cơ chế chi trả đề xuất:
- Chi trả trực tiếp: Áp dụng khi bên kinh doanh du lịch hoặc khai thác nước ký hợp đồng trực tiếp với cộng đồng thôn bản nhận khoán bảo vệ rừng;
- Chi trả gián tiếp: Doanh nghiệp du lịch, cơ sở thủy điện (20 đ/kWh) và cấp nước sạch (40 đ/m3) nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Sau khi trích 10% chi phí quản lý và 5% quỹ dự phòng, Quỹ giải ngân cho Ban quản lý VQG Tam Đảo và các chủ rừng để chi trả công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình (mức trích chi trả khoán bảo vệ đạt 80% theo quy định đối với tổ chức nhà nước).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cụ thể hóa khung chính sách quốc gia (Nghị định 99/2010/NĐ-CP) vào một địa bàn phức tạp gồm 23 xã tiếp giáp 3 tỉnh thành, làm rõ cơ cấu đất đai và hiện trạng giao khoán rừng làm cơ sở thực tiễn cho việc ký kết hợp đồng và phân phối tiền DVMTR.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được ghi nhận dựa trên các giới hạn tác giả tự nêu:
- Thời gian tiến hành nghiên cứu ngắn (từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014);
- Khảo sát thực địa sơ cấp mới chỉ tập trung sâu tại huyện Tam Đảo (UBND 2 xã Đạo Trù và Hồ Sơn), chưa tiến hành phỏng vấn sâu trên diện rộng toàn bộ 23 xã thuộc địa bàn hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang;
- Một số dữ liệu về nhân khẩu học và kinh tế – xã hội phải kế thừa từ các dự án quy hoạch trước đây (số liệu thống kê năm 1999);
- Chưa tiến hành lượng giá kinh tế chi tiết cho dịch vụ hấp thụ carbon và điều tiết nước của từng tiểu vùng sinh thái bằng mô hình toán kinh tế cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học và khảo sát thực địa trên toàn bộ 23 xã vùng đệm của cả 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên;
- Triển khai thử nghiệm thực tế hai mô hình sinh kế (nông lâm kết hợp và du lịch sinh thái cộng đồng) trên các diện tích đất đã giao khoán;
- Tính toán chi tiết hệ số K (K1, K2, K3, K4) về trạng thái rừng và trữ lượng để xác định mức chi trả tiền DVMTR chính xác đến từng lô rừng và từng hộ nhận khoán;
- Xây dựng cơ chế phối hợp tài chính liên tỉnh trong việc điều tiết tiền DVMTR từ Quỹ cấp tỉnh đối với các lưu vực có tính chất giáp ranh địa giới hành chính.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Lâm nghiệp, Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tham khảo về quy trình phân tích chính sách PFES;
- Cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các địa phương có địa bàn vùng đệm phức tạp;
- Người thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh kế cộng đồng vùng cao gắn với bảo tồn tài nguyên sinh vật.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm hệ thống dữ liệu chi tiết về hiện trạng sử dụng đất đai, cơ cấu giao khoán rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo (Chương 4), bảng tổng hợp các dự án thí điểm PFES tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012 (Chương 2) và phương pháp luận kết hợp SWOT với phân tích các bên liên quan (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo được quy định với quy mô diện tích và vị trí ranh giới như thế nào?
Theo Quyết định số 136/TTg ngày 06/03/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 273/NN-PTLN/QĐ ngày 20/02/1997 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích vùng đệm VQG Tam Đảo là 15.515 ha. Vùng đệm nằm ngoài ranh giới vùng lõi (ranh giới trong lấy theo đường đồng mức 100 m trở xuống chân núi), bao gồm 23 xã kề sát chân núi Tam Đảo thuộc 3 tỉnh: Thái Nguyên (10 xã thuộc huyện Đại Từ), Tuyên Quang (5 xã thuộc huyện Sơn Dương) và Vĩnh Phúc (7 xã thuộc huyện Tam Đảo, 1 xã thuộc huyện Bình Xuyên). Tổng diện tích tự nhiên của 23 xã vùng đệm là 35.717,73 ha.
2. Tình trạng dân sinh và áp lực của cư dân vùng đệm lên tài nguyên rừng Tam Đảo được ghi nhận ra sao?
Toàn vùng đệm có 148.706 người với 29.598 hộ, mật độ dân số trung bình 204 người/km2. Dân tộc thiểu số chiếm 37% (gồm các dân tộc Sán Dìu, Sán Chỉ, Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Hoa). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,66%/năm. Quỹ đất nông nghiệp bình quân cho một nhân khẩu rất thấp, chỉ đạt 776 m2/khẩu, năng suất lúa từ 35–40 tạ/ha/năm không bảo đảm an ninh lương thực. Người dân phụ thuộc lớn vào việc đốn củi (ước tính toàn vùng sử dụng 59.000 ste củi/năm), khai thác măng, lấy gỗ trộm và săn bắt động vật hoang dã. Canh tác nương rẫy "phát, đốt, chọc, tỉa" đã lấn sâu từ cốt 400 m lên tới cốt 500–700 m.
3. Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng cho các bên sử dụng dịch vụ được nêu trong văn bản là bao nhiêu?
Căn cứ Nghị định số 99/2010/NĐ-CP được trích dẫn trong văn bản, mức chi trả cố định đối với bên sử dụng dịch vụ bao gồm:
- Cơ sở sản xuất thủy điện: 20 đồng/kWh điện thương phẩm;
- Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch: 40 đồng/m3 nước thương phẩm;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch hưởng lợi từ DVMTR: chi trả từ 1% đến 2% trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ.
4. Nguồn tiền DVMTR được điều phối và quản lý như thế nào theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP?
Trong trường hợp chi trả gián tiếp qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, tiền DVMTR được trích 10% cho chi phí quản lý của Quỹ và 5% cho quỹ dự phòng. Số tiền còn lại được phân bổ cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ. Nếu người được chi trả là các tổ chức nhà nước (như Ban quản lý rừng), tổ chức được sử dụng 10% cho chi phí quản lý và 80% kinh phí để thanh toán hợp đồng khoán bảo vệ rừng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn bản. Đối với chi trả trực tiếp, bên cung ứng có toàn quyền quyết định sử dụng số tiền sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định.
5. Những trở ngại chính khi triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với hoạt động du lịch tại Tam Đảo là gì?
Văn bản chỉ rõ 3 vướng mắc chính khi triển khai thu tiền DVMTR từ hoạt động du lịch:
- Người sử dụng dịch vụ (doanh nghiệp du lịch) chưa hiểu rõ mức độ đóng góp cụ thể của vẻ đẹp cảnh quan rừng đối với hoạt động kinh doanh của họ;
- Sự sẵn lòng chi trả của các đơn vị kinh doanh có sự chênh lệch lớn phụ thuộc vào quy mô doanh thu;
- Quy định pháp lý chưa xác định rõ ràng nhóm đối tượng kinh doanh du lịch cụ thể nào bắt buộc phải nộp tiền DVMTR.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Mai đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và cơ sở pháp lý về chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, đồng thời cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng tài nguyên đất đai, dân sinh và tình hình giao khoán rừng tại 23 xã vùng đệm VQG Tam Đảo. Nghiên cứu đã xác định nguyên nhân cốt lõi gây áp lực suy thoái tài nguyên bắt nguồn từ sự thiếu hụt đất canh tác (776 m2/khẩu) và nhu cầu chất đốt rất lớn của cư dân bản địa. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hai mô hình sinh kế gồm nông lâm kết hợp và du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng gắn với cơ chế chi trả trực tiếp và gián tiếp, mở ra giải pháp kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học với xóa đói giảm nghèo bền vững tại địa phương.