Tổng quan nghiên cứu

Rừng giữ vai trò cốt lõi trong việc duy trì cân bằng sinh thái, phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Tại tỉnh Nghệ An, với diện tích đất lâm nghiệp đạt hơn 1.150.300 ha, huyện miền núi Quế Phong nổi lên như một địa bàn chiến lược khi sở hữu 174.333,06 ha đất lâm nghiệp, chiếm hơn 92% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện. Độ che phủ rừng của Quế Phong đạt tới 76,7%, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 76,2%, vượt trội so với mức bình quân 57,2% của tỉnh Nghệ An. Trước khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai trên quy mô toàn quốc theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, công tác bảo vệ và phát triển rừng tại các huyện vùng cao gặp nhiều áp lực do phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp, chưa tạo được cơ chế tài chính bền vững nhằm bù đắp thỏa đáng cho người làm nghề rừng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lâm học của tác giả Phan Quảng Nam, thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Xuân Hoàn vào năm 2017, tập trung giải quyết bài toán đánh giá toàn diện thực trạng và hiệu quả thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích tác động nhiều mặt của chính sách đến công tác quản lý bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập cho người dân miền núi, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chi trả theo hướng bền vững. Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại 5 xã trọng điểm gồm Đồng Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Châu Kim thuộc huyện Quế Phong và các nhà máy thủy điện lớn trong lưu vực như Thủy điện Hủa Na công suất 180 MW, Bản Cốc 18 MW, Sao Va 3 MW, Cửa Đạt 100 MW. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu chuyên sâu giai đoạn 2014-2016 và số liệu lũy kế toàn tỉnh giai đoạn 2012-2016. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được khẳng định khi làm rõ nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Quế Phong đạt gần 20 tỷ đồng mỗi năm, đóng góp vào tổng nguồn thu hơn 271,2 tỷ đồng của toàn tỉnh Nghệ An, tạo bước ngoặt trong xã hội hóa nghề rừng và hỗ trợ sinh kế cho 91,23% lực lượng lao động nông lâm nghiệp tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học môi trường, lý thuyết ngoại ứng tích cực và lý thuyết định giá dịch vụ hệ sinh thái theo quan điểm tiếp cận thị trường của Sven Wunder. Theo các lý thuyết này, các giá trị phi thị trường của rừng như phòng hộ đầu nguồn, giữ nước, giảm bồi lắng lòng hồ thủy điện và điều hòa khí hậu cần được lượng hóa thành giao dịch kinh tế sòng phẳng. Luận văn áp dụng mô hình cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp thông qua quỹ ủy thác công, được thể chế hóa tại Việt Nam qua Nghị định số 05/2008/NĐ-CP, Quyết định số 380/QĐ-TTg thí điểm tại Sơn La và Lâm Đồng, và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh các khái niệm cốt lõi:

  • Dịch vụ môi trường rừng: Hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của hệ sinh thái rừng nhằm bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn và bồi lắng cho các công trình thủy điện, nước sạch và du lịch sinh thái.
  • Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng: Các doanh nghiệp sản xuất thủy điện, sản xuất nước sạch và kinh doanh du lịch được hưởng lợi trực tiếp từ lưu vực rừng, có nghĩa vụ chi trả với mức giá do nhà nước quy định như 20 đồng/kWh đối với điện thương phẩm và 40 đồng/m3 đối với nước sạch thương phẩm.
  • Bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng: Các chủ rừng gồm ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp, ủy ban nhân dân cấp xã, cộng đồng dân cư thôn bản và các hộ gia đình trực tiếp quản lý, bảo vệ diện tích rừng cung ứng.
  • Cơ chế ủy thác tài chính: Quy trình bên sử dụng dịch vụ nộp tiền qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh để điều phối, phân bổ minh bạch cho các chủ rừng và hộ nhận khoán bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và số liệu điều tra thực địa sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập và kế thừa từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An, Hạt Kiểm lâm Quế Phong, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có diện tích 89.508,3 ha và báo cáo kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Quế Phong.

Về phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu điều tra thực địa:

  • Nhóm hộ gia đình: Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng phỏng vấn sâu 30 hộ gia đình là chủ rừng và nhận khoán bảo vệ rừng tại 5 xã vùng cao, chia đều thành 3 nhóm gồm 10 hộ có mức chi trả cao nhất, 10 hộ nhận mức chi trả trung bình và 10 hộ nhận mức chi trả thấp nhất.
  • Nhóm cộng đồng thôn bản: Phỏng vấn 11 trưởng bản đại diện cho 4 bản có tiền chi trả cao nhất, 3 bản có tiền chi trả trung bình và 4 bản có tiền chi trả thấp nhất.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên sâu của 12 chuyên gia, nhà quản lý giàu kinh nghiệm đến từ Tổng cục Lâm nghiệp 1 người, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương 2 người, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An 1 người, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An 2 người, Ủy ban nhân dân huyện Quế Phong 1 người, Hạt Kiểm lâm Quế Phong 1 người, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt 1 người, chuyên gia tư vấn chính sách 2 người và cán bộ Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam VFD 1 người.

Lý do lựa chọn phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia PRA và RRA kết hợp phân tích định lượng bằng phần mềm Excel và hệ thống cơ sở dữ liệu quản trị chuyên ngành là nhằm đảm bảo tính khách quan, đối chiếu đa chiều giữa số liệu báo cáo của cơ quan quản lý với mức độ thụ hưởng thực tế của người dân bản địa. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục từ năm 2014 đến cuối năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách đã tạo lập nguồn thu tài chính ngoài ngân sách to lớn và ổn định. Giai đoạn 2012-2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An đã ký kết hợp đồng ủy thác thành công với 19 cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng, bao gồm 14 nhà máy thủy điện tổng công suất lớn và 5 nhà máy nước sạch. Tổng nguồn thu lũy kế toàn tỉnh đạt 271.249 triệu đồng, tăng trưởng liên tục qua các năm: từ 43.281 triệu đồng năm 2012 lên 44.336 triệu đồng năm 2013, đạt 49.408 triệu đồng năm 2014, tăng vọt lên 64.963 triệu đồng năm 2015 và chạm mốc 69.261 triệu đồng vào năm 2016. Riêng địa bàn huyện Quế Phong, nguồn thu từ các nhà máy thủy điện lớn như Hủa Na (180 MW), Bản Cốc (18 MW), Sao Va (3 MW), Châu Thắng (14 MW) và lưu vực hồ Cửa Đạt mang lại gần 20 tỷ đồng mỗi năm.

Thứ hai, công tác giải ngân và mở rộng diện tích rừng được chi trả đạt hiệu quả cao. Lũy kế giải ngân toàn tỉnh Nghệ An đến hết năm 2016 đạt 224.576 triệu đồng. Tại Quế Phong, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã đưa 38.198,62 ha rừng vào diện được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chiếm gần 50% diện tích đất có rừng của đơn vị. Toàn huyện đã giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên cho người dân và cộng đồng đạt 93.865,27 ha vào năm 2015, quản lý chặt chẽ tổng diện tích 140.239,5 ha rừng tự nhiên trên địa bàn.

Thứ ba, tình trạng vi phạm pháp luật lâm nghiệp suy giảm rõ rệt. Khi người dân có quyền lợi kinh tế gắn liền với rừng, số vụ vi phạm lâm luật trên toàn tỉnh Nghệ An đã giảm từ 1.141 vụ năm 2011 xuống 856 vụ năm 2014, còn 695 vụ năm 2015 và giảm mạnh xuống chỉ còn 275 vụ vào năm 2016, tương ứng mức giảm 75,9% sau 5 năm thực thi chính sách.

Thứ tư, chính sách tạo tác động xã hội sâu sắc, nâng cao thu nhập và nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số gồm Thái, Khơ Mú, H'Mông, Thổ. Trong tổng số 41.758 lao động của huyện Quế Phong, có tới 38.097 người làm trong lĩnh vực nông lâm nghiệp (chiếm 91,23%). Tiền dịch vụ môi trường rừng trở thành nguồn thu tiền mặt quan trọng, giúp các hộ nhận khoán trang trải sinh hoạt, đầu tư cây con giống và chủ động thành lập các tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn bản.

Thảo luận kết quả

Thành công của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Quế Phong và Nghệ An bắt nguồn từ việc thiết lập bộ máy vận hành chuyên nghiệp của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh và Tổ chức chi trả cấp huyện đặt tại Hạt Kiểm lâm Quế Phong theo Quyết định số 4001/QĐ-UBND. Khi trình bày dữ liệu thông qua Biểu đồ 4.1 về diễn biến nguồn thu và Biểu đồ 4.2 về tình hình giải ngân, có thể thấy rõ mối tương quan đồng thuận giữa các doanh nghiệp thủy điện và đơn vị cung ứng dịch vụ. Việc minh họa cơ chế dòng tiền qua sơ đồ chi trả ủy thác cho thấy tính ưu việt của mô hình trung gian công, loại bỏ chi phí giao dịch phức tạp nếu để bên mua và bên bán tự thỏa thuận trực tiếp.

So sánh với các nghiên cứu của CIFOR năm 2013 và USAID năm 2015 về kết quả thực hiện chính sách tại các tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên, mô hình tại Quế Phong khẳng định quy mô diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ lớn hơn nhiều nhờ sự hiện diện của các khu bảo tồn thiên nhiên quy mô lớn như Pù Hoạt (89.508,3 ha). Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra hạn chế: mức chi trả giữa các lưu vực thủy điện còn chênh lệch đáng kể, một số khu vực vùng sâu có đơn giá chi trả trên mỗi hecta còn thấp do diện tích lưu vực nhỏ hoặc nhà máy thủy điện công suất thấp. Địa hình chia cắt mạnh với độ dốc trên 30 độ chiếm tới 52% diện tích và đỉnh Pù Hoạt cao 2.452m gây khó khăn lớn cho công tác kiểm tra, nghiệm thu rừng hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Quế Phong và nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược:

  1. Hoàn thiện hệ thống xác định đơn giá và áp dụng linh hoạt hệ số phân bổ: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Tài chính và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An khẩn trương áp dụng quy định tại Nghị định số 147/2016/NĐ-CP để điều chỉnh tăng đơn giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Cần triển khai tính toán hệ số K dựa trên trạng thái rừng giàu (trữ lượng 201-300 m3/ha), rừng trung bình (101-200 m3/ha) và rừng nghèo phục hồi, kết hợp mức độ khó khăn phòng hộ để phân bổ tiền công bằng, mục tiêu nâng mức thu nhập thực tế cho các hộ vùng sâu lên tối thiểu 15-20% trong giai đoạn 2017-2020.

  2. Đổi mới công nghệ giám sát, đánh giá và số hóa quy trình quản lý: Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và Hạt Kiểm lâm Quế Phong cần ứng dụng công nghệ ảnh viễn thám vệ tinh và hệ thống thông tin địa lý GIS trong việc xác định ranh giới, biến động diện tích của 140.239,5 ha rừng tự nhiên. Hoàn thiện số hóa hồ sơ chi trả và chuyển đổi hình thức chi trả qua tài khoản ngân hàng hoặc bưu điện cho 100% cộng đồng và chủ rừng trước năm 2019 nhằm giảm thiểu chi phí hành chính và rủi ro lưu thông tiền mặt tại các xã vùng biên.

  3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao năng lực cho cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Quế Phong chủ trì, phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương triển khai chương trình truyền thông đa ngữ (tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng H'Mông) tại 14 xã, thị trấn. Tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn chuyên môn mỗi năm từ năm 2018 cho 100% trưởng bản, tổ tuần tra rừng thôn bản về kỹ năng lập kế hoạch quản lý và sử dụng quỹ bảo vệ rừng cộng đồng đúng mục đích.

  4. Mở rộng đối tượng sử dụng dịch vụ và tăng cường kiểm toán tài chính: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An phối hợp cùng các ban ngành mở rộng ký kết hợp đồng ủy thác đối với các cơ sở công nghiệp chế biến có sử dụng nguồn nước, các điểm du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản. Ban Kiểm soát Quỹ duy trì công tác kiểm toán nội bộ định kỳ hàng quý đối với dòng tiền giải ngân trên 60-70 tỷ đồng mỗi năm, niêm yết công khai danh sách và mức tiền chi trả tại nhà văn hóa của 100% thôn bản thụ hưởng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, chứa đựng nhiều giá trị khoa học và thực tiễn phong phú, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tại các tỉnh miền núi có thể sử dụng các kết quả phân tích số liệu tài chính của Nghệ An để tham mưu hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi cơ chế biểu giá và hướng dẫn quản lý quỹ ủy thác cấp tỉnh, cấp huyện.

  2. Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và công ty lâm nghiệp: Lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của các khu bảo tồn thiên nhiên và công ty lâm nghiệp tham khảo mô hình phân bổ diện tích chi trả 38.198,62 ha của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, từ đó xây dựng phương án giao khoán bảo vệ rừng bền vững gắn với chia sẻ lợi ích cộng đồng.

  3. Doanh nghiệp thủy điện, sản xuất nước sạch và du lịch sinh thái: Các chủ đầu tư như Thủy điện Hủa Na, Thủy điện Cửa Đạt, Thủy điện Bản Cốc tham khảo luận văn để hiểu rõ bản chất dòng tiền ủy thác, xây dựng kế hoạch chi phí kinh doanh gắn với trách nhiệm xã hội và bảo đảm an toàn nguồn nước vận hành hồ chứa.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế môi trường: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu mực về phương pháp kết hợp nghiên cứu định tính PRA/RRA với phân tích định lượng thống kê trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Quế Phong được thực hiện theo hình thức nào? Quế Phong thực hiện hình thức chi trả gián tiếp ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An. Các doanh nghiệp thủy điện lớn như Hủa Na (180 MW), Bản Cốc (18 MW) nộp tiền ủy thác vào Quỹ tỉnh, sau đó Quỹ điều phối qua Hạt Kiểm lâm Quế Phong để chi trả minh bạch tới Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, các xã và các hộ nhận khoán.

Tổng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng tại Nghệ An và Quế Phong đạt quy mô ra sao? Lũy kế giai đoạn 2012-2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An đã huy động được 271.249 triệu đồng từ 19 cơ sở sử dụng dịch vụ và giải ngân đạt 224.576 triệu đồng. Riêng huyện Quế Phong, nguồn kinh phí chi trả hàng năm đạt gần 20 tỷ đồng, tạo nguồn vốn bổ sung ổn định phục vụ đắc lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng.

Chính sách mang lại tác động rõ rệt nhất nào đối với an ninh rừng tại địa phương? Tác động lớn nhất là làm giảm rõ rệt các vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp trên toàn tỉnh Nghệ An từ 1.141 vụ năm 2011 xuống chỉ còn 275 vụ vào năm 2016, tương ứng mức giảm 75,9%. Đồng thời, diện tích 140.239,5 ha rừng tự nhiên của Quế Phong được giữ vững, duy trì độ che phủ đạt 76,7%.

Ai là người trực tiếp hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Quế Phong? Người hưởng lợi bao gồm Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt quản lý 38.198,62 ha rừng chi trả, các tổ chức lâm nghiệp, ủy ban nhân dân các xã và hàng nghìn hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng thôn bản nhận giao khoán bảo vệ hơn 93.865 ha rừng, hỗ trợ sinh kế cho 91,23% lao động địa phương.

Những khó khăn lớn nhất khi triển khai chính sách tại địa bàn Quế Phong là gì? Khó khăn lớn nhất là địa hình hiểm trở với độ dốc trên 30 độ chiếm 52% diện tích toàn huyện, đỉnh Pù Hoạt cao 2.452m gây trở ngại cho công tác tuần tra, nghiệm thu rừng. Thêm vào đó, đơn giá chi trả giữa các lưu vực còn chênh lệch và nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân vùng sâu còn hạn chế.

Kết luận

  • Đề tài đã khẳng định tính đúng đắn, kịp thời và hiệu quả vượt trội của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Quế Phong, nơi có tỷ lệ che phủ rừng đạt tới 76,7%.
  • Tạo lập nguồn tài chính bền vững ngoài ngân sách đạt gần 20 tỷ đồng mỗi năm cho huyện Quế Phong, đóng góp vào tổng nguồn thu 271.249 triệu đồng và giải ngân 224.576 triệu đồng của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012-2016.
  • Giúp giảm mạnh 75,9% số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2011 đến 2016, đồng thời cải thiện trực tiếp thu nhập và sinh kế cho 91,23% lực lượng lao động nông lâm nghiệp tại địa phương.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng để hoàn thiện cơ chế phân bổ đơn giá theo hệ số K, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng viễn thám GIS trong giám sát 140.239,5 ha rừng tự nhiên giai đoạn 2017-2020.
  • Là tài liệu khoa học chuẩn mực đóng góp thiết thực cho công cuộc xã hội hóa nghề rừng và phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng cao.

Các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý rừng và doanh nghiệp liên quan hãy chủ động tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để vận dụng linh hoạt các giải pháp vào thực tiễn quản lý tài nguyên rừng tại địa phương.