Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Biên chế Trong các văn bản pháp luật hiện hành, chưa có một định nghĩa cụ thể, rõ ràng nào về biên chế. Mặc dù đây là cụm từ xuất hiện rất nhiều trong các văn bản về cán bộ, công chức, viên chức, như Luật Cán bộ, Công chức, Luật Viên chức… và các Nghị định về tinh giản biên chế.
Hiểu một cách đơn giản, biên chế là số người làm việc trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước do đơn vị quyết định hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo hướng dẫn của Nhà nước. Đây là vị trí công việc phục vụ lâu dài, vô thời hạn trong các cơ quan Nhà nước, hưởng các chế độ về lương, phụ cấp theo quy định của Nhà nước. Như vậy, vào biên chế trở thành mục tiêu, niềm khao khát của nhiều người bởi vị trí này đảm bảo sự ổn định cho đến tuổi nghỉ hưu, nếu không thuộc diện bị tinh giản biên chế hoặc không tự nguyện nghỉ việc. Trong khi đó, nếu như làm việc theo chế độ hợp đồng, cá nhân chỉ làm việc theo thời hạn và có thể sẽ phải nghỉ việc, tìm việc làm mới nếu đơn vị tuyển dụng không ký tiếp hợp đồng… Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì: “Biên chế” được hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.
Lao động biên chế làm việc trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước được giao các nhiệm vụ theo vị trí công việc và được hưởng lương từ 9 ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương) phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm.Sự khác nhau giữa Biên chế và Hợp đồng lao động Biên chế Hợp đồng lao động Biên chế là một vị trí công việc được Người làm việc theo hợp đồng lao phục vụ (hành nghề) lâu dài trong cơ động được quản lý bởi chủ sở hữu, quan nhà nước được quốc hội, chính người đại diện pháp luật hoặc người phủ, hoặc hội đồng nhân dân các cấp quản lý doanh nghiệp, và được điều quyết định hoặc phê duyệt trong các chỉnh bởi Bộ luật lao động. nghị quyết về quy hoạch số lượng các chức danh trong bộ máy công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nhân viên biên chế là người đã thi Nhân viên hợp đồng được ký hợp công chức (viên chức) vào 1 cơ quan đồng lao động và chỉ hưởng hoàn (thời gian thử thách sau khi thi đỗ toàn chế độ đãi ngộ theo hợp đồng thường là 1 năm) và trở thành cán bộ đó, các chế độ đãi ngộ khác cơ quan công nhân viên chức thuộc biên chế có thể dành cho bạn nhưng không của cơ quan đó, họ được hưởng đầy thuộc dạng bắt buộc đủ các quyền lợi và cả các chế độ đãi ngộ mà nhân viên hợp đồng có thể không được hưởng. Tinh giản biên chế Tinh giản biên chế không phải là sự cắt giảm một cách cơ học thuần túy cán bộ, công chức ở một vị trí, một bộ phận chuyên môn nào đó.
Vấn đề tinh 10 giản biên chế phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng được cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý về số lượng, chức danh ngạch, chức danh nghề nghiệp; trình độ, đội tuổi, dân tộc, giới tính, nhất là tương quan cơ cấu giữa các cơ quan trung ương với các cơ quan địa phương… Tinh giản biên chế là việc có ảnh hưởng sâu rộng trong toàn cơ quan, đơn vị, vì thế phải có cách làm phù hợp đi kèm với những cơ chế, chính sách cụ thể, hướng tới nâng cao chất lượng thực thi công vụ, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu quả. Tinh giản biên chế phải làm từng bước, có lộ tình rõ ràng, kế hoạch thực hiện cụ thể. Trong khi đó, quá trình triển khai chủ trương này cho thấy nhiều bộ, ngành, địa phương chưa xây dựng đề án tổng thể, về sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế, không có phương án cụ thể ngay từ đầu nên không có kế hoạch tinh giản biên chế hoặc thiếu tính khả thi. Từ đó dẫn đến việc thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ giải quyết thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ giải quyết thụ động, theo nguyện vọng mà thiếu sự chủ động và chuẩn bị một cách tích cực.
Nghị định 108 được xây dựng trên cơ sở 4 bộ luật là Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Có thể nói, hết sức chi tiết, cụ thể nhằm bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc thực thi. Tinh giản biên chế được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế như sau: “Tinh giản biên chế” được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế”. Chính sách tinh giản biên chế Trước khi tìm hiểu khái niệm về chính sách tinh giản biên chế, đề tài phân tích, làm rõ khái niệm chính sách công với các quan điểm cụ thể sau: 11 Theo quan điểm của tác giả Lê Chi Mai, chính sách công là những quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi thực tiễn, chính sách công không chỉ thể hiện dự định của Nhà nước hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định đó.
Theo Đỗ Phú Hải, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [12]. Theo tác giả Hồ Việt Hạnh (2017), thì khái niệm chính sách công được hiểu là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. Trên cơ sở khái niệm này chúng ta có thể khẳng định: Thứ nhất, chủ thể của chính sách công phải là thể chế được cộng đồng trao quyền lực của cộng đồng (quyền lực công), được thực hiện bằng các phương tiện phụ thuộc vào tình hình lịch sử cụ thể (phương tiện đó là sự kết hợp giữa cái vốn có của chủ thể và cái thuộc về cộng đồng trao cho, có thể là trí tuệ, tiền bạc, vật chất khác…). Thứ hai, chủ thể của chính sách công được hiểu theo đúng nghĩa của nó khi chủ thể này đề ra các quyết sách có tính chấy hướng đích giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan tâm chung của xã hội, của nhân dân, đến lợi ích chung của cả cộng đồng, đối tượng mà đã trao quyền lực cho nó cho chủ thể thực hiện.
Thứ ba, tính phức tạp của chính sách công trong quá trình nghiên cứu, nhìn một cách tổng thể vận động vật chất, xã hội thì cùng với sự vận động của xã hội loài người. Các giai đoạn triển khai thực hiện trong thực tiễn của chính sách công ngày càng được các chủ thể chính sách công chi tiết hóa khiến cho các chủ thể tham gia vào quá trình chính sách công nhìn theo vòng đời của nó 12 ngày càng đa dạng và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chủ thể tham gia vào quá trình của chính sách công của giai đoạn trước thường ít hoặc nhiều tham gia vào giai đoạn sau và ngược lại trong thực tế. Chính vì vậy, trong nghiên cứu của đề tài, cũng như từ những phân tích trên chủ thể của chính sách công ở đây được hiểu và nhìn nhận là chủ thể tham gia vào ngay từ từ khâu đầu tiên của quá trình chính sách công tức là từ quá trình xác định vấn đề chính sách, hoạch định chính sách công.
Thứ tư, cộng đồng của chính sách công ở đây nên được hiểu theo nghĩa rộng của nó tức là một nhóm người, một giai cấp, một địa phương, một quốc gia hay cả loài người… Thứ năm, chính sách công chỉ thực sự là chính sách công khi chúng ta nghiên cứu và đạt nó trong mối quan hệ với chính sách tư và ngược lại. Thứ sáu, xã hội loài người hiện nay thì các quốc gia là thể chế phổ biến và bền vững nhất. Người dân tại quốc gia này thường trao quyền đại diện của họ cho Nhà nước một thực thể có thề đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân, song một số quốc gia không chỉ trao quyền đó cho Nhà nước mà còn trao cho một số thể chế khác nữa. Thứ bảy, đối với nước ta, do quá trình lịch sử nên nhân dân đã trao quyền lãnh đạo, quản lý của mình cho hai thực thể mà xét ở bình diện quốc gia đối với nước ta thì là chủ thể của chính sách công là Đảng và Nhà nước.
“Dựa trên những phân tích trên, có thể quan niệm chính sách tinh giản biên chế là một tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau của Nhà nước về biên chế nhằm thực hiện tổ chức, sắp xếp và cắt giảm số lượng cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy các cơ quan nhà nước với mục tiêu đem lại hiệu quả hoạt động cho bộ máy nhà nước theo đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổ chức Từ “Tổ chức” là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhưng để định nghĩa chưa có định nghĩa chung về thuật ngữ này. Tài liệu Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước [10, tr. 8] đã định nghĩa về “Tổ chức” và xem “Tổ chức” là một hệ thống của hai hay nhiều người phối hợp với nhau trong một công việc nào đó tạo nên một tổ chức với những mục tiêu chung của họ thông qua ở những mức độ khác nhau của sự phân công lao động giữa những con người đó.
Vậy xét trên tổng thể, tổ chức đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên, có sự liên kết với nhau nhằm hướng đến mục tiêu chung và xét về bản chất thì tổ chức do con người tạo nên.