Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng làm chủ khoa học và công nghệ trở thành nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống giáo dục. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã chỉ rõ những hạn chế của nền giáo dục hiện hành như việc chương trình còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành và thiếu sự gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn sản xuất. Nhằm khắc phục tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 yêu cầu thúc đẩy giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông, tiếp nối bởi Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14/05/2018 phê duyệt Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh giai đoạn 2018–2025 gắn liền với giáo dục tích hợp khoa học - công nghệ - kĩ thuật - toán.

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 môn Sinh học xác định môn học này có bản chất thực nghiệm, gắn liền với thế giới sống và các quy trình công nghệ trong đời sống sản xuất. Trong đó, nội dung "Sinh trưởng và phát triển ở động vật" thuộc chương trình Sinh học 11 chứa đựng nhiều kiến thức thực tiễn có khả năng chuyển hóa thành các bài học giáo dục STEM. Việc triển khai dạy học STEM ở chủ đề này giúp xóa bỏ khoảng cách giữa lý thuyết hàn lâm và thực tiễn, tạo cơ hội để học sinh rèn luyện và phát triển năng lực sinh học cùng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (GQVĐ&ST).

Khóa luận tiến hành giải quyết các nội dung nghiên cứu theo cấu trúc mục tiêu, giả thuyết, đối tượng và nhiệm vụ sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng và tổ chức bài học STEM trong dạy học chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật – Sinh học 11" nhằm phát triển năng lực sinh học và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông (THPT).
  • Giả thuyết nghiên cứu: Nếu thiết kế và sử dụng các chủ đề STEM hợp lí và phù hợp trong dạy học sinh học phần nội dung Sinh trưởng và phát triển ở động vật lớp 11 thì sẽ phát triển năng lực sinh học và năng lực giải quyết vấn đề của học sinh và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học ở trường THPT.
  • Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục STEM và năng lực giải quyết vấn đề (và sáng tạo) của học sinh.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Sinh học tại các trường THPT.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Phát triển năng lực sinh học và năng lực GQVĐ&ST cho học sinh lớp 11 qua chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật".
    • Địa bàn: Thành phố Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Số trường và lớp thực nghiệm: 2 trường THPT tại Cà Mau (THPT Hồ Thị Kỷ và THPT Cà Mau), mỗi trường gồm 1 lớp thực nghiệm và 1 lớp đối chứng.
    • Kế hoạch bài dạy (KHBD) thiết kế: 2 KHBD STEM với thời lượng 3 tiết cho mỗi kế hoạch bài dạy.
    • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2023 đến tháng 04/2024 (thực nghiệm sư phạm tiến hành từ tháng 02/2024 đến tháng 04/2024).
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu mục tiêu, chương trình, nội dung kiến thức Sinh học 11 THPT.
    2. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học STEM và việc ứng dụng STEM trong dạy học Sinh học 11 THPT.
    3. Khảo sát thực trạng về giáo dục STEM trong dạy học Sinh học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh lớp 11.
    4. Thiết kế quy trình dạy học 2 chủ đề STEM và quy trình thiết kế sản phẩm STEM phù hợp với thời lượng và yêu cầu cần đạt của phần nội dung Sinh trưởng và phát triển ở động vật – Sinh học 11.
    5. Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh lớp 11 cho bài dạy STEM chủ đề Sinh trưởng và phát triển ở động vật Sinh học 11 THPT.
    6. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm giả thuyết khoa học, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc thiết kế và sử dụng các chủ đề STEM.
    7. Vận dụng Toán thống kê để phân tích kết quả thực nghiệm, đánh giá mức độ hiệu quả của đề tài nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm, tài liệu hướng dẫn chuyên môn và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Giáo dục STEM: Khái niệm theo Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF), Hiệp hội Giáo viên Dạy Khoa học Quốc gia Mỹ (NSTA) và Chương trình GDPT 2018. Chu trình STEM được phân tích dưới dạng mô hình xoáy ốc tương tác giữa quy trình nghiên cứu khoa học (từ công nghệ phát hiện tri thức mới) và quy trình kĩ thuật (vận dụng tri thức để sáng tạo công nghệ mới).
    • Mức độ tích hợp STEM: Áp dụng khung 5 mức độ của Vongai Mpofi (2019). Tác giả lựa chọn Mức độ 1 (S-T-E-M: tiếp cận nội môn, tích hợp đơn giản, lấy học sinh làm trung tâm) nhằm phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất thực tế của các trường phổ thông Việt Nam và hướng dẫn tại Công văn số 3089/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    • Quy trình tổ chức: Sử dụng 2 quy trình chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) gồm quy trình thiết kế kĩ thuật (7 bước: Xác định vấn đề $\rightarrow$ Nghiên cứu tổng quan $\rightarrow$ Xác định yêu cầu $\rightarrow$ Đề xuất, đánh giá và lựa chọn giải pháp $\rightarrow$ Xây dựng nguyên mẫu $\rightarrow$ Kiểm chứng giải pháp $\rightarrow$ Công bố kết quả) và quy trình nghiên cứu khoa học (6 bước).
    • Năng lực và cấu trúc năng lực: Tiếp cận khái niệm năng lực theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014) và CTGDPT 2018. Năng lực sinh học gồm 3 thành phần (Nhận thức sinh học, Tìm hiểu thế giới sống, Vận dụng kiến thức kĩ năng đã học vào thực tiễn). Năng lực GQVĐ&ST được cấu trúc thành 6 thành phần: (1) Nhận ra ý tưởng mới; (2) Phát hiện và làm rõ vấn đề; (3) Hình thành và triển khai ý tưởng mới; (4) Đề xuất, lựa chọn giải pháp; (5) Thực hiện và đánh giá giải pháp; (6) Tư duy độc lập. Khung tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Phan Đồng Châu Thủy và Nguyễn Thị Ngân (2017) với 4 mức độ biểu hiện (từ Mức 0: 0 điểm đến Mức 3: 3 điểm).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp văn kiện chính sách, chương trình GDPT 2018 môn Sinh học và các công trình nghiên cứu STEM trong và ngoài nước.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát thực trạng nhận thức và nhu cầu dạy học STEM trên mẫu gồm 32 giáo viên THPT môn Sinh học và 191 học sinh khối 11 tại Thành phố Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh thông qua phiếu hỏi trên giấy và Google Forms.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại Trường THPT Hồ Thị Kỷ và Trường THPT Cà Mau với các lớp 11A10 và 11A4; sử dụng đa dạng công cụ thu thập dữ liệu (phiếu học tập, rubric đánh giá năng lực, phiếu quan sát, phiếu đánh giá sản phẩm, phiếu tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng).
    • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 365 để tính toán các tham số thống kê gồm điểm trung bình cộng ($\bar{X}$), kiểm định độ tin cậy Spearman-Brown ($r_{sb} > 0{,}7$) và kiểm định sai khác Paired-Samples t-test ($p < 0{,}05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục STEM trên thế giới (Mỹ, Úc, Pháp, Canada, Singapore, Trung Quốc) và các công trình nghiên cứu STEM trong môn Sinh học tại Việt Nam (Trần Thị Gái, 2018; Phạm Thị Hồng Tú, 2019; Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2019; Nguyễn Thị Hằng, 2020; Lại Phương Liên, 2022). Khóa luận xác định khoảng trống nghiên cứu: chưa có đề tài nào xây dựng bài học STEM cho chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật" lớp 11 nhằm mục tiêu phát triển năng lực GQVĐ&ST.

Phần cơ sở thực tiễn phản ánh kết quả khảo sát trên 191 học sinh lớp 11 và 32 giáo viên THPT tại Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh trong học kỳ II năm học 2023–2024:

Nội dung khảo sát học sinh (N = 191) Phân bố tỷ lệ phản hồi (%)
Mức độ tham gia mô hình STEM Đã biết và tham gia: 43,98% | Đã học nhưng chưa rõ: 23,04% | Tìm hiểu nhưng chưa học: 17,80% | Chưa biết và chưa học: 15,18%
Tần suất học Sinh học theo STEM Thường xuyên: 15,18% (n=29) | Thỉnh thoảng: 31,41% (n=60) | Hiếm khi: 18,85% (n=36) | Chưa bao giờ: 34,55% (n=66)
Nhu cầu học chủ đề STEM/học kỳ Nhiều hơn 2 chủ đề: 48,17% | 1–2 chủ đề: 41,36% | Không muốn học: 10,47%
Hiểu biết về năng lực GQVĐ&ST Đã từng nghe nói: 61,78% (n=118) | Chưa từng nghe nói: 38,22% (n=73)
Mức độ cần thiết của NL GQVĐ&ST Rất cần thiết: 42,41% | Cần thiết: 39,27% | Bình thường: 13,61% | Không cần thiết: 4,71%
Yêu cầu GQVĐ&ST trong giờ học Thường xuyên: 39,89% | Thỉnh thoảng: 46,60% | Hiếm khi/Chưa bao giờ: 13,51%
Thái độ khi gặp tình huống có vấn đề Rất quan tâm, muốn giải quyết: 60,21% | Quan tâm muốn tìm hiểu: 29,84% | Thấy lạ nhưng không tìm hiểu: 4,71% | Không quan tâm: 5,24%

Kết quả khảo sát giáo viên cho thấy đa số giáo viên đều nhận thức được vai trò của giáo dục STEM trong đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng còn gặp khó khăn về thiết bị, thời gian và công cụ đánh giá năng lực đặc thù.

Chương 2: Thiết kế kế hoạch bài dạy STEM chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật" trong môn Sinh học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Chương 2 tập trung phân tích nội dung, thời lượng và các yêu cầu cần đạt của chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật" trong Chương trình GDPT 2018 môn Sinh học 11, từ đó xác định tiêu chí và tiến trình 5 hoạt động dạy học bài học STEM theo định hướng phát triển năng lực:

  • Hoạt động 1: Xác định vấn đề (gắn với chỉ số phát hiện và làm rõ vấn đề).
  • Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền (nhận ra ý tưởng mới, nghiên cứu quy luật sinh trưởng).
  • Hoạt động 3: Đề xuất giải pháp và lựa chọn giải pháp (hình thành ý tưởng, lập phương án).
  • Hoạt động 4: Chế tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá (thực hiện và đánh giá giải pháp).
  • Hoạt động 5: Chia sẻ, thảo luận và hoàn thiện (tư duy độc lập, phản biện và cải tiến).

Tác giả đã xây dựng hoàn chỉnh 2 kế hoạch bài dạy dự án cụ thể:

  1. Dự án 1: "Quy trình nuôi Ruồi lính đen – Chế tạo sản phẩm từ Ruồi lính đen".
  2. Dự án 2: "Quy trình nuôi Giun Quế – Chế tạo sản phẩm từ Giun Quế" (thiết kế chuồng nuôi, thử nghiệm các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của giun quế, thu hoạch phân giun và giun tươi).

Đi kèm kế hoạch bài dạy là hệ thống công cụ đánh giá chi tiết: bộ Rubric định lượng 4 mức độ cho 6 chỉ số hành vi của năng lực GQVĐ&ST, phiếu đánh giá kĩ năng thiết kế chuồng nuôi, phiếu đánh giá hợp tác nhóm, phiếu đánh giá đồng đẳng và các đề kiểm tra đánh giá năng lực sinh học.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày quy trình và kết quả thực nghiệm sư phạm được tiến hành từ tháng 02/2024 đến tháng 04/2024 tại Trường THPT Hồ Thị Kỷ (lớp thực nghiệm 11A10, giáo viên Ngô Duy Thanh) và Trường THPT Cà Mau (lớp thực nghiệm 11A4, giáo viên Hồng Kim Thanh).

Quy trình thực nghiệm thực hiện đo lường kép: đánh giá năng lực sinh học giữa lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC); đánh giá sự tiến bộ của năng lực GQVĐ&ST của học sinh lớp thực nghiệm trước tác động (TTĐ) và sau tác động (STĐ) thông qua 2 nhiệm vụ dự án. Dữ liệu định lượng được kiểm định thống kê qua Microsoft Office Excel 365, kết hợp với phân tích định tính các sản phẩm thực tế (chuồng nuôi, giun tươi, phân giun hữu cơ) và phiếu khảo sát học sinh sau thực nghiệm.


Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Về mặt năng lực sinh học: Học sinh tại các lớp thực nghiệm (11A10, 11A4) đạt điểm số trung bình kiểm tra năng lực sinh học cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các lớp đối chứng tương ứng ($p < 0{,}05$).
    • Về năng lực GQVĐ&ST: Kết quả đánh giá qua rubric theo 2 nhiệm vụ học tập cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh lớp thực nghiệm từ mức độ 1–2 (thực hiện cần hỗ trợ) lên mức độ 2–3 (tự chủ đề xuất giải pháp, thiết kế thử nghiệm và tư duy độc lập).
    • Về sản phẩm thực tiễn: Học sinh đã thiết kế thành công các mô hình chuồng nuôi, thử nghiệm quy trình nuôi giun quế, ruồi lính đen và tạo ra các sản phẩm cụ thể như phân giun hữu cơ, sinh khối giun tươi đạt yêu cầu kĩ thuật.
    • Khảo sát sau thực nghiệm cho thấy học sinh phản hồi tích cực về hứng thú học tập, khả năng làm việc nhóm và ý thức vận dụng kiến thức sinh học vào đời sống.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Cung cấp cơ sở lý luận hoàn chỉnh về việc tích hợp STEM Mức độ 1 (theo khung Vongai Mpofi) vào dạy học môn Sinh học lớp 11 theo Chương trình GDPT 2018.
    • Xây dựng bộ tư liệu dạy học thực chứng gồm 2 kế hoạch bài dạy STEM (Ruồi lính đen và Giun quế) cùng hệ thống phiếu học tập, tiêu chí đánh giá sản phẩm và rubric đo lường năng lực GQVĐ&ST có thể áp dụng trực tiếp tại các trường THPT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi thực nghiệm mới chỉ tiến hành trên 2 lớp thực nghiệm tại 2 trường THPT thuộc địa bàn Thành phố Cà Mau, chưa triển khai mở rộng ra các trường có điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất khác nhau.
    • Thời gian thực nghiệm gói gọn trong học kỳ II năm học 2023–2024 (tháng 02/2024 đến tháng 04/2024), tập trung duy nhất vào chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật".
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu thiết kế và tổ chức các bài học STEM cho toàn bộ các mạch nội dung khác trong chương trình Sinh học lớp 11 và các khối lớp THPT.
    • Tiếp tục thử nghiệm và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ&ST trên các cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều tỉnh, thành phố.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giáo viên giảng dạy môn Sinh học tại các trường THPT, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Sinh học, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học, cán bộ quản lý chuyên môn phụ trách hoạt động STEM cấp trung học.
  • Các nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Quy trình thiết kế bài học STEM 5 hoạt động gắn liền với các thành tố của năng lực GQVĐ&ST.
    • Ma trận rubric đánh giá 6 năng lực thành phần của năng lực GQVĐ&ST theo 4 mức độ định lượng (Bảng 1.1 trong luận văn).
    • Hai kế hoạch bài dạy chi tiết kèm quy trình hướng dẫn học sinh nuôi Ruồi lính đen và Giun quế xử lý rác thải hữu cơ (Phụ lục 3 và Phụ lục 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận lựa chọn mô hình tích hợp STEM nào theo cơ sở lý thuyết của Vongai Mpofi?
Tác giả lựa chọn Mức độ 1 (S-T-E-M), tức cách tiếp cận tích hợp nội môn thông qua việc thiết kế bài dạy STEM trong khuôn khổ môn Sinh học. Mức độ này phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất thực tế tại các trường phổ thông Việt Nam và đáp ứng định hướng tổ chức bài học STEM theo Công văn số 3089/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Đề tài thiết kế những dự án STEM cụ thể nào trong chủ đề Sinh trưởng và phát triển ở động vật?
Đề tài thiết kế 2 dự án học tập với thời lượng 3 tiết/kế hoạch bài dạy gồm: (1) Dự án "Quy trình nuôi Ruồi lính đen – Chế tạo sản phẩm từ Ruồi lính đen" và (2) Dự án "Quy trình nuôi Giun Quế – Chế tạo sản phẩm từ Giun Quế".

3. Thang đo đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong khóa luận gồm những mức độ nào?
Thang đo gồm 4 mức độ biểu hiện dựa trên mức độ tự lực và độ hoàn thiện hành vi của học sinh: Mức 0 (0 điểm - Chưa có năng lực), Mức 1 (1 điểm - Mức độ thấp), Mức 2 (2 điểm - Mức độ trung bình) và Mức 3 (3 điểm - Mức độ tốt).

4. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai ở đâu?
Thực nghiệm được triển khai từ tháng 02/2024 đến tháng 04/2024 tại 2 trường THPT ở TP. Cà Mau: Trường THPT Hồ Thị Kỷ (lớp 11A10) và Trường THPT Cà Mau (lớp 11A4) cùng các lớp đối chứng tương ứng, dưới sự hỗ trợ chuyên môn của giáo viên Ngô Duy Thanh và giáo viên Hồng Kim Thanh.

5. Tác giả đã bổ sung những nội dung trọng tâm nào sau phiên bảo vệ khóa luận ngày 07/05/2024?
Theo Bản xác nhận chỉnh sửa ngày 17/05/2024, tác giả đã bổ sung bước thí nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của giun quế; bổ sung đánh giá định tính và đưa quy trình, sản phẩm của giáo viên vào phụ lục; bổ sung quy trình thiết kế vào nhiệm vụ nghiên cứu và kết luận; chỉnh sửa phạm vi nghiên cứu, kiến nghị, tên hình ảnh và các bảng biểu.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồng Thị Mỹ Duyên đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và thiết kế hoàn chỉnh tiến trình dạy học STEM cho chủ đề "Sinh trưởng và phát triển ở động vật" môn Sinh học 11. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Hồ Thị Kỷ và Trường THPT Cà Mau khẳng định việc tổ chức các dự án STEM như nuôi giun quế và ruồi lính đen giúp nâng cao rõ rệt kết quả học tập môn Sinh học đồng thời phát triển hiệu quả năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh. Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho giáo viên phổ thông và sinh viên ngành sư phạm trong việc triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.