Tổng quan nghiên cứu

William Somerset Maugham (1874–1965) là một trong những đại diện xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực Anh thế kỷ XX. Trải qua hơn 91 năm cuộc đời cùng sự nghiệp sáng tác đồ sộ, ông từng là cây bút nhận mức thù lao cao nhất thế giới trong thập niên 1930. Tại Việt Nam, tác phẩm của Maugham được dịch và giới thiệu từ năm 1930 trên báo Ngày nay, song các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thi pháp truyện ngắn của ông suốt hơn 80 năm qua vẫn còn mang tính chất tản mạn. Đề tài "Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của William Somerset Maugham" do học viên Hoàng Thị Hải Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 đã giải quyết trọn vẹn khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu cốt lõi của luận văn là phân loại hệ thống các kiểu nhân vật, giải mã nghệ thuật khắc họa chân dung ngoại hình kết hợp tâm lý, đồng thời phân tích sự tương tác giữa nhân vật với tình huống và hệ quy chiếu không - thời gian nghệ thuật. Phạm vi khảo sát tập trung vào 20 truyện ngắn đặc sắc nhất đã được chuyển ngữ chuẩn xác sang tiếng Việt với 29 nhân vật trung tâm được phân tích chi tiết. Công trình mang giá trị khoa học to lớn khi nâng tỷ lệ bao quát các bình diện thi pháp học Maugham lên mức toàn diện, đồng thời đóng góp một khung tham chiếu chuẩn mực cho việc giảng dạy và tiếp nhận văn học Anh hiện đại tại Việt Nam với độ tin cậy đạt mức tối đa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng bộ ba hệ thống lý thuyết văn học hiện đại để kiến tạo hệ thống phân tích đa tầng:

  1. Lý thuyết Tự sự học (Narratology) và Thi pháp học nhân vật: Dựa trên nền tảng quan điểm của Gérard Genette, Boris Tomashevsky và Mikhail Bakhtin, công trình xác định nhân vật văn học không chỉ là sự mô phỏng con người thực tế mà là một chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh mang chức năng biểu đạt tư tưởng và quan niệm thẩm mỹ của nhà văn.
  2. Lý thuyết Nghiên cứu Hậu thực dân (Postcolonial Theory): Dựa trên các luận điểm của Edward Said, lý thuyết này được ứng dụng để soi chiếu các truyện ngắn lấy bối cảnh tại các xứ thuộc địa Nam Thái Bình Dương và Mã Lai, vạch trần cơ chế áp chế của ý thức hệ thực dân lên nhân cách con người.
  3. Hệ thống khái niệm công cụ: Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm then chốt gồm Chân dung nhân vật (ngoại hình và chiều sâu tâm lý), Tình huống truyện (tình huống kịch tính và tình huống gặp gỡ), Không gian nghệ thuật (không gian thiên nhiên, thuộc địa, xã hội thượng lưu) và Thời gian nghệ thuật (thời gian tuyến tính, thời gian đồng hiện).

Phương pháp nghiên cứu

Công trình xây dựng quy trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ với các thông số cụ thể:

  • Cỡ mẫu và tư liệu nghiên cứu: Khảo sát chuyên sâu 20 truyện ngắn tiêu biểu được tuyển chọn từ 2 tập sách uy tín gồm tập "Mưa" do Nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1984 (12 truyện) và "Tuyển tập truyện ngắn S. Maugham" của Nhà xuất bản Hội Nhà văn (15 truyện), trích xuất và phân tích 29 nhân vật chính mang tính luận đề cao.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling). Tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ hoàn thiện về mặt thi pháp, tính điển hình cho tư tưởng nghệ thuật của tác giả và chất lượng chuyển ngữ từ các dịch giả tên tuổi như Nguyễn Việt Long, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Tuấn Khanh, Mạnh Chương.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phương pháp loại hình học để phân loại nhân vật, phương pháp cấu trúc - hệ thống nhằm liên kết các tầng bậc thi pháp, phương pháp phân tích văn bản tự sự và phương pháp so sánh văn học đối chiếu sáng tác của Maugham với Guy de Maupassant, Anton Chekhov, Ernest Hemingway và Rudyard Kipling. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ và bảo vệ thành công trong năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên 29 nhân vật chính thuộc 20 truyện ngắn kinh điển mang lại các kết quả đột phá:

  • Cơ cấu các kiểu nhân vật: Dữ liệu phân tích cho thấy sự phân hóa thành 3 nhóm rõ rệt. Nhóm nhân vật thức tỉnh chiếm tỷ trọng áp đảo với 48,3% (14 trên 29 nhân vật, tiêu biểu như Giên, Macx Kêlađa, Etuốt Banớt), phản ánh tư tưởng nhân văn của tác giả. Nhóm nhân vật tha hóa chiếm 27,6% (8 trên 29 nhân vật, điển hình như Rôbinxơn, Đavítxơn, Uynxơn). Nhóm nhân vật đổ vỡ chiếm 17,2% (5 trên 29 nhân vật, như Ninxơn, Henri Harnet, Đôrít). Nhóm đặc thù khác chiếm 6,9% (2 trên 29 nhân vật).
  • Nghệ thuật khắc họa chân dung hai mặt: Tác giả vận dụng thành công hai thủ pháp đối sánh. Thứ nhất là ngoại hình thống nhất với bản chất (xuất hiện ở hơn 55% nhân vật) giúp bộc lộ trực tiếp tính cách. Thứ hai là ngoại hình đối lập hoặc biến đổi sâu sắc với bản chất (chiếm khoảng 45%), tiêu biểu là nhân vật Phrorextơ khoác lớp vỏ quý tộc giả tạo hay Chàng Đỏ sau 30 năm biến từ một thanh niên đẹp như thần Apollo thành một viên thuyền trưởng phì nộn, thô bỉ.
  • Cấu trúc không gian nghệ thuật nhị phân: Hơn 60% tác phẩm đặt nhân vật vào không gian thuộc địa và thiên nhiên viễn xứ nguyên sơ (Samoa, Tahiti, vùng biển Nam Thái Bình Dương) để tạo môi trường giải phóng bản năng hoặc bộc lộ sự tha hóa, đối lập với khoảng 40% tác phẩm thuộc không gian phòng khách thượng lưu ngột ngạt tại London và Paris.

Các phát hiện này có thể được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê tần suất xuất hiện và biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ các kiểu nhân vật, làm nổi bật cấu trúc thi pháp tự sự độc đáo của tác giả.

Thảo luận kết quả

Sự áp đảo của mô hình nhân vật thức tỉnh (48,3%) khẳng định niềm tin sâu sắc của Maugham vào khả năng tự nhận thức của con người khi vượt qua các thử thách mang tính định mệnh. Căn nguyên nghệ thuật bắt nguồn từ trải nghiệm sống phong phú suốt 91 năm, vốn kiến thức y khoa và kinh nghiệm hoạt động tình báo, giúp nhà văn có cái nhìn giải ảo, bóc trần những ảo tưởng đạo đức giả tạo.

Khi so sánh với các bậc thầy truyện ngắn thế giới, Maugham kế thừa nghệ thuật xây dựng cốt truyện kịch tính, kết thúc bất ngờ từ Guy de Maupassant nhưng lại vượt trội ở chiều sâu phân tích tâm lý cay độc, sắc sảo. So với Anton Chekhov, nếu như đại văn hào Nga miêu tả sự tha hóa một cách trầm buồn, xót xa thì Maugham đẩy bi kịch tha hóa lên mức triệt để như sự biến chất thành thú tính của Uynxơn trong "Kẻ hưởng lạc". Đối chiếu với Rudyard Kipling về đề tài thuộc địa, Maugham không ca ngợi sứ mệnh khai hóa của người da trắng mà vạch trần sự thất bại thảm hại của ý thức hệ thực dân thông qua cái chết tự vẫn của cha cố Đavítxơn trong "Mưa".

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị khoa học từ kết quả nghiên cứu của luận văn, 4 nhóm giải pháp thực tiễn được đề xuất:

  1. Mở rộng quy mô biên dịch toàn tập: Các đơn vị xuất bản chuyên ngành cần xây dựng đề án dịch thuật có hệ thống toàn bộ hơn 80 truyện ngắn của William Somerset Maugham sang tiếng Việt trong thời hạn 24 tháng tới, thay vì chỉ dừng lại ở con số 20 truyện được dịch rải rác như hiện nay.
  2. Đổi mới chương trình giảng dạy đại học: Các khoa Ngữ văn và Khoa học Xã hội thuộc các trường đại học lớn cần tích hợp chuyên đề thi pháp học nhân vật Maugham vào học phần Văn học phương Tây trước năm 2025, phấn đấu đạt 100% sinh viên chuyên ngành được tiếp cận lý thuyết tự sự học ứng dụng.
  3. Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành Hậu thực dân: Các viện nghiên cứu văn học cần tài trợ kinh phí thực hiện tối thiểu 5 công trình nghiên cứu liên ngành văn học - văn hóa học thuộc địa giai đoạn 2024–2026, sử dụng khung phân tích không gian nghệ thuật của Maugham làm mô hình mẫu.
  4. Ứng dụng kỹ thuật xây dựng tình huống vào sáng tác và biên kịch: Các hiệp hội nhà văn và trường đào tạo nghệ thuật sân khấu điện ảnh cần tổ chức các hội thảo chuyên sâu nhằm chuyển giao kỹ thuật xây dựng nhân vật hai mặt và tình huống kịch tính của Maugham vào thực tiễn biên kịch kịch bản phim và truyện ngắn đương đại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình học thuật này mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học: Tài liệu cung cấp hệ thống luận điểm khoa học vững chắc, phương pháp phân tích tự sự học mẫu mực và nguồn ngữ liệu chuẩn xác phục vụ công tác giảng dạy văn học Anh - Mỹ.
  • Sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Báo chí và Biên kịch: Nguồn tài liệu tham khảo đắc lực để học hỏi kỹ năng cấu trúc cốt truyện, nghệ thuật xây dựng xung đột kịch tính và kỹ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đa chiều.
  • Dịch giả và biên tập viên văn học nước ngoài: Cung cấp góc nhìn đối sánh ngôn ngữ, phong cách hành văn mỉa mai đặc trưng của Maugham nhằm chuẩn hóa chất lượng các bản dịch văn học cổ điển phương Tây.
  • Độc giả yêu mến văn học hiện thực cổ điển: Hỗ trợ người đọc tiếp cận trọn vẹn chiều sâu triết lý nhân sinh, tính chất giải ảo hiện thực và giá trị thẩm mỹ trong toàn bộ di sản truyện ngắn của Maugham.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao nhân vật thức tỉnh lại chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3% trong khảo sát? Nhân vật thức tỉnh chiếm 14 trên 29 trường hợp khảo sát vì Maugham luôn đặt nhân vật vào những biến cố bất ngờ để thử thách nhận thức. Sự thức tỉnh giúp nhân vật thoát khỏi định kiến xã hội hoặc ảo tưởng cá nhân, qua đó thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc và niềm tin của tác giả vào sự hướng thiện đích thực.

  2. Sự tha hóa của cha cố Đavítxơn trong truyện ngắn Mưa mang thông điệp gì? Đavítxơn đại diện cho sự kiêu ngạo của kẻ nhân danh văn minh mẫu quốc để áp chế văn hóa bản địa. Sự tha hóa và kết cục tự vẫn sau khi gạ tình cô gái điếm Thômxơn chứng minh rằng những giáo điều khiên cưỡng không thể dập tắt được bản năng tự nhiên của con người, đồng thời phê phán sự đạo đức giả của chủ nghĩa thực dân.

  3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình đối lập với bản chất được thể hiện rõ nhất qua tác phẩm nào? Thủ pháp này thể hiện xuất sắc nhất qua nhân vật Đại úy Phrorextơ trong "Lốt sư tử". Dáng vẻ đường bệ, trang phục quý tộc và phong thái điền chủ thực chất chỉ là chiếc lốt ngụy trang che đậy quá khứ thấp hèn của một tên lính hầu nhút nhát, phơi bày thói háo danh và sự giả dối của tầng lớp thượng lưu.

  4. Không gian thuộc địa đóng vai trò gì trong sự vận động tính cách của nhân vật? Chiếm hơn 60% bối cảnh khảo sát, không gian thuộc địa Nam Thái Bình Dương đóng vai trò như chất xúc tác làm bộc lộ bản chất thật của nhân vật. Nơi đây hoặc giúp con người rũ bỏ gánh nặng văn minh để sống thanh thản như Etuốt Banớt, hoặc làm sụp đổ các nguyên tắc đạo đức giả tạo như trường hợp Đavítxơn.

  5. Luận văn đã đánh giá danh hiệu "Maupassant của nước Anh" dành cho Maugham như thế nào? Luận văn khẳng định Maugham kế thừa trọn vẹn kết cấu cốt truyện chặt chẽ, lối hành văn khúc chiết và kết thúc bất ngờ từ Maupassant. Tuy nhiên, Maugham tạo nên bản sắc độc lập nhờ ngòi bút châm biếm sâu cay, sự hòa trộn giữa tính cổ điển với kỹ thuật tâm lý hiện đại cùng cái nhìn đầy cảm thông đối với thân phận con người.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và mô hình hóa thành công 3 kiểu nhân vật cơ bản trong truyện ngắn Maugham với tỷ lệ: Thức tỉnh (48,3%), Tha hóa (27,6%) và Đổ vỡ (17,2%).
  • Khám phá trọn vẹn nghệ thuật tạo hình chân dung ngoại hình kết hợp phân tích tâm lý, chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa thể xác và đời sống nội tâm nhân vật.
  • Làm sáng tỏ vai trò của tình huống kịch tính cùng hệ quy chiếu không - thời gian nghệ thuật trong việc thúc đẩy bước ngoặt nhận thức của hình tượng con người.
  • Vận dụng thành công lý thuyết tự sự học và góc nhìn hậu thực dân, khẳng định đóng góp của Maugham trong việc giải ảo định kiến của xã hội phương Tây đầu thế kỷ XX.
  • Thiết lập một công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về thế giới nhân vật Maugham với độ tin cậy và giá trị học thuật xuất sắc.

Công trình năm 2014 của tác giả Hoàng Thị Hải Hà đã hoàn thành xuất sắc 100% nhiệm vụ khoa học, mở ra hướng tiếp cận thi pháp học mới mẻ cho văn học dịch. Quý độc giả, giảng viên và sinh viên quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ học tập và nghiên cứu chuyên sâu.